Trong quá trình mua bán doanh nghiệp, bên bán thường phải cung cấp cho bên mua một lượng lớn thông tin nội bộ như báo cáo tài chính, danh sách khách hàng, giá thành, hợp đồng với đối tác, chiến lược kinh doanh, dữ liệu nhân sự và các thông tin có giá trị cạnh tranh
Tuy nhiên, một số doanh nghiệp lại chỉ tập trung vào giá chuyển nhượng, phương thức thanh toán và thời điểm hoàn tất giao dịch mà bỏ qua một vấn đề rất quan trọng là cam kết bảo mật thông tin
Vậy nếu hợp đồng mua bán không có điều khoản bảo mật, bên mua có được tự do sử dụng hoặc tiết lộ thông tin của bên bán hay không?
Nếu thương vụ không thành công, bên bán có còn cơ sở pháp lý để yêu cầu bên mua bảo mật thông tin đã nhận được hay không?
Hãy cùng chuyên gia ThS. Nguyễn Hữu Long phân tích tình huống dưới đây để tìm ra giải pháp vẹn toàn cả về lý lẫn tình
I. TÓM TẮT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ
Công ty A đang tìm kiếm đối tác để chuyển nhượng phần vốn góp tại doanh nghiệp
Trong quá trình đàm phán, Công ty B là bên mua yêu cầu A cung cấp nhiều tài liệu để phục vụ quá trình thẩm định
A đã cung cấp cho B báo cáo tài chính, danh sách khách hàng, chính sách giá, hợp đồng với nhà cung cấp, chiến lược kinh doanh và một số quy trình nội bộ
Hai bên sau đó không thống nhất được giá chuyển nhượng nên thương vụ không được thực hiện
Một thời gian sau, A phát hiện B bắt đầu tiếp cận một số khách hàng lớn của A và triển khai hoạt động kinh doanh có nhiều điểm tương đồng với chiến lược mà A từng cung cấp trong quá trình đàm phán
A cho rằng B đã sử dụng những thông tin mà mình nhận được trong quá trình mua bán
Tuy nhiên, giữa hai bên không có NDA hoặc điều khoản bảo mật riêng
A lo ngại rằng vì không có cam kết bảo mật nên mình không còn cơ sở pháp lý để yêu cầu B chấm dứt việc sử dụng thông tin
Vậy pháp luật quy định như thế nào?
II. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – “LÁ CHẮN VỮNG CHẮC”
1. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
1.1. Nghĩa vụ bảo mật thông tin trong quá trình giao kết hợp đồng
Khoản 2 Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác
Khoản 3 Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 387 mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
1.2. Điều kiện để thông tin được bảo hộ dưới danh nghĩa bí mật kinh doanh
Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 155/VBHN-VPQH năm 2025, quy định bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện:
Khoản 1 Điều 84: Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được
Khoản 2 Điều 84: Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó
Khoản 3 Điều 84: Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được
1.3. Các hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh
Khoản 1 Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định các hành vi bị coi là xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh, trong đó có:
Điểm a khoản 1 Điều 127: Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh
Điểm b khoản 1 Điều 127: Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu
Điểm c khoản 1 Điều 127: Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc thực hiện các hành vi như lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập hoặc làm bộc lộ bí mật kinh doanh
Điểm đ khoản 1 Điều 127: Sử dụng, bộc lộ bí mật kinh doanh dù đã biết hoặc có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được từ các hành vi xâm phạm quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này
1.4. Hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh theo pháp luật cạnh tranh
Khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh là hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm
Cụ thể:
Điểm a khoản 1 Điều 45: Tiếp cận, thu thập thông tin bí mật trong kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu thông tin đó
Điểm b khoản 1 Điều 45: Tiết lộ, sử dụng thông tin bí mật trong kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó
1.5. Trường hợp thông tin được cung cấp có chứa dữ liệu cá nhân
Nếu thông tin bên bán cung cấp có chứa dữ liệu cá nhân của khách hàng, người lao động hoặc cá nhân khác, ngoài vấn đề bảo mật thông tin doanh nghiệp còn phải xem xét Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15
Khoản 1 Điều 17 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 quy định các trường hợp được chuyển giao dữ liệu cá nhân, trong đó có trường hợp chuyển giao khi có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu và trường hợp chuyển giao để tiếp tục xử lý trong một số trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp được luật quy định
Đây là một lớp nghĩa vụ pháp lý riêng, không thể đồng nhất hoàn toàn với nghĩa vụ bảo mật bí mật kinh doanh
2. ÁP DỤNG VÀO TÌNH HUỐNG
2.1. Không có NDA có đồng nghĩa bên mua được tự do sử dụng thông tin?
Không
Đây là điểm cần sửa nhận thức quan trọng nhất
Việc hai bên không ký riêng một NDA không đồng nghĩa với việc B được tự do sử dụng mọi thông tin mà A cung cấp trong quá trình đàm phán
Nếu thông tin thuộc phạm vi thông tin bí mật và B nhận được thông tin đó trong quá trình giao kết hợp đồng thì khoản 2 Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã đặt ra nghĩa vụ bảo mật
Nói cách dễ hiểu:
Không có NDA riêng ≠ không có nghĩa vụ bảo mật
NDA chủ yếu giúp các bên xác định rõ phạm vi, thời hạn, mục đích sử dụng và trách nhiệm khi vi phạm, chứ không phải điều kiện duy nhất làm phát sinh mọi nghĩa vụ bảo mật
2.2. B có được sử dụng thông tin A cung cấp để phục vụ hoạt động kinh doanh riêng không?
Nếu thông tin được xác định là thông tin bí mật mà B nhận được trong quá trình đàm phán thì việc B sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng có thể vi phạm khoản 2 Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015
Đặc biệt, nếu B sử dụng thông tin để tiếp cận khách hàng của A, xây dựng chiến lược cạnh tranh hoặc phục vụ một hoạt động kinh doanh riêng thì A có cơ sở xem xét trách nhiệm pháp lý của B
Tuy nhiên, A vẫn phải chứng minh được những vấn đề quan trọng như:
Thông tin nào là thông tin bí mật
B đã nhận được thông tin đó trong quá trình đàm phán
B đã sử dụng hoặc tiết lộ thông tin
Việc sử dụng đó trái với nghĩa vụ bảo mật
Thiệt hại thực tế phát sinh nếu yêu cầu bồi thường
2.3. Không phải mọi tài liệu A cung cấp đều tự động là bí mật kinh doanh
Đây là điểm rất quan trọng
Một báo cáo, danh sách khách hàng hoặc tài liệu nội bộ chỉ được bảo hộ dưới danh nghĩa bí mật kinh doanh khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ
Nếu thông tin đã được công khai, ai cũng dễ dàng tiếp cận hoặc không tạo ra lợi thế cạnh tranh thì không thể chỉ vì A gọi đó là “bí mật” mà mặc nhiên được coi là bí mật kinh doanh
Đặc biệt, khoản 3 Điều 84 yêu cầu chủ sở hữu phải có các biện pháp cần thiết để bảo mật thông tin
Vì vậy, việc A không ký NDA, không phân quyền truy cập, không đánh dấu tài liệu mật hoặc cung cấp thông tin tràn lan có thể khiến A gặp khó khăn hơn trong việc chứng minh điều kiện bảo hộ
2.4. Trường hợp B sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh
Nếu A chứng minh được thông tin đáp ứng điều kiện bảo hộ theo Điều 84 và B không được phép sử dụng nhưng vẫn sử dụng thì cần xem xét điểm b khoản 1 Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ
Nếu B biết hoặc phải biết thông tin có nguồn gốc từ hành vi xâm phạm mà vẫn sử dụng hoặc bộc lộ thì có thể tiếp tục xem xét điểm đ khoản 1 Điều 127
Nếu hành vi đồng thời đáp ứng điều kiện của hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì còn có thể xem xét điểm b khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018
2.5. Nếu A yêu cầu bồi thường thì sao?
Nếu hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo mật theo khoản 2 Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 gây thiệt hại thì khoản 3 Điều 387 là căn cứ trực tiếp để xem xét trách nhiệm bồi thường
Nhưng A không nên chỉ chứng minh rằng:
“B đã biết thông tin của tôi”
Mà phải xây dựng được chuỗi chứng cứ:
A sở hữu thông tin → thông tin được cung cấp cho B → thông tin có tính bí mật → B đã sử dụng hoặc tiết lộ → hành vi đó vi phạm nghĩa vụ → A phát sinh thiệt hại
2.6. Nếu thông tin bao gồm dữ liệu khách hàng
Nếu danh sách khách hàng chứa thông tin xác định hoặc giúp xác định một cá nhân thì cần tách riêng vấn đề dữ liệu cá nhân
Khi đó, việc chuyển giao và tiếp tục xử lý dữ liệu phải được đối chiếu với Điều 17 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, thay vì chỉ dựa vào NDA giữa A và B
Đặc biệt, pháp luật hiện hành đã có quy định riêng về chuyển giao dữ liệu cá nhân nên doanh nghiệp không nên coi toàn bộ “database khách hàng” đơn thuần là tài sản thương mại muốn chuyển cho bên mua thế nào cũng được
3. KẾT LUẬN PHÁP LÝ
Mua bán không có cam kết bảo mật riêng là một rủi ro lớn nhưng không đồng nghĩa bên bán mất hoàn toàn quyền bảo vệ thông tin
Nếu B nhận được thông tin bí mật trong quá trình giao kết hợp đồng thì khoản 2 Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn đặt ra nghĩa vụ bảo mật và không sử dụng thông tin cho mục đích riêng
Nếu thông tin đáp ứng điều kiện là bí mật kinh doanh, bên bán còn có thể xem xét cơ chế bảo hộ theo Điều 84 và khoản 1 Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành
Nếu hành vi thuộc trường hợp xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh thì có thể xem xét khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2018
Nếu thông tin có chứa dữ liệu cá nhân thì phải tiếp tục đối chiếu Điều 17 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025
Do đó, NDA không phải là căn cứ duy nhất để bảo vệ thông tin, nhưng việc không có NDA khiến bên bán mất đi một công cụ quản trị và chứng cứ rất quan trọng
III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ – “CHÌA KHÓA NHÂN VĂN”
1. Góc nhìn tâm lý
Trong quá trình mua bán, bên bán thường có tâm lý muốn cung cấp càng nhiều thông tin càng tốt để chứng minh doanh nghiệp có giá trị
Trong khi đó, bên mua lại muốn tiếp cận càng nhiều dữ liệu càng tốt để giảm rủi ro đầu tư
Hai nhu cầu này hoàn toàn dễ hiểu nhưng nếu không có giới hạn thì bên bán có thể vô tình trao cho bên mua những thông tin có giá trị cạnh tranh rất lớn
2. Góc nhìn giáo dục
Doanh nghiệp cần hình thành nhận thức rằng thông tin cũng là một loại tài sản
Danh sách khách hàng, chính sách giá, dữ liệu nhà cung cấp, chiến lược kinh doanh và quy trình nội bộ đều cần được phân loại và quản lý
Không thể đợi đến khi xảy ra tranh chấp mới bắt đầu xác định tài liệu nào là bí mật
3. Góc nhìn quản trị
Lỗ hổng lớn nhất trong tình huống này không chỉ nằm ở việc thiếu NDA mà còn nằm ở quy trình quản trị dữ liệu trong M&A
Nếu doanh nghiệp không có Data Room, không phân quyền truy cập, không ghi nhận lịch sử tải tài liệu và không phân loại tài liệu mật thì khi xảy ra tranh chấp sẽ rất khó xác định bên mua đã tiếp cận và sử dụng thông tin nào
IV. GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CỦA CHUYÊN GIA
Bước 1: Ký NDA trước khi cung cấp thông tin nhạy cảm
NDA cần quy định rõ:
Thông tin nào là thông tin mật
Mục đích sử dụng
Người được quyền tiếp cận
Thời hạn bảo mật
Trường hợp được phép tiết lộ
Nghĩa vụ hoàn trả hoặc tiêu hủy tài liệu
Trách nhiệm khi vi phạm
Bước 2: Chia thông tin thành nhiều cấp độ
Không nên đưa toàn bộ dữ liệu doanh nghiệp cho bên mua ngay từ đầu
Có thể chia thành:
Thông tin công khai
Thông tin nội bộ
Thông tin mật
Bí mật kinh doanh
Thông tin đặc biệt nhạy cảm
Càng nhạy cảm thì càng phải hạn chế quyền truy cập
Bước 3: Xây dựng Data Room
Mọi tài liệu phục vụ Due Diligence nên được đưa vào hệ thống có khả năng ghi nhận:
Ai truy cập
Truy cập tài liệu nào
Thời điểm truy cập
Tài liệu được tải xuống
Người được phép chia sẻ
Điều này giúp doanh nghiệp tạo lập chứng cứ ngay từ đầu
Bước 4: Hạn chế thông tin ở giai đoạn đầu
Không phải thông tin nào cũng cần cung cấp trước khi hai bên đạt được mức độ tin cậy nhất định
Các thông tin đặc biệt nhạy cảm nên được cung cấp ở giai đoạn phù hợp và sau khi đã có các biện pháp bảo vệ cần thiết
Bước 5: Nếu đã lỡ cung cấp thông tin mà không có NDA
Không nên mặc định rằng doanh nghiệp đã mất quyền bảo vệ
Cần ngay lập tức:
Lập danh mục thông tin đã cung cấp
Xác định thông tin nào là bí mật kinh doanh
Lưu lại toàn bộ lịch sử trao đổi
Xác định người bên mua đã tiếp cận dữ liệu
Theo dõi dấu hiệu sử dụng hoặc tiết lộ thông tin
Đánh giá thiệt hại
Gửi yêu cầu chấm dứt hành vi nếu có căn cứ
Bước 6: Kiểm tra riêng dữ liệu cá nhân
Nếu hồ sơ M&A chứa dữ liệu khách hàng, người lao động hoặc cá nhân khác thì phải thực hiện rà soát riêng theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, đặc biệt là quy định về chuyển giao dữ liệu cá nhân tại Điều 17
GÓC NHÌN CHUYÊN GIA
Trong M&A, doanh nghiệp không chỉ bán tài sản hữu hình mà còn phải đối mặt với nguy cơ “để lộ tài sản vô hình” trước khi thương vụ hoàn tất
Một thương vụ có thể thất bại về giá nhưng bên mua vẫn đã nắm được thông tin khách hàng, chiến lược, giá thành và mô hình kinh doanh của bên bán
Vì vậy, bảo mật thông tin phải được đặt ra ngay từ giai đoạn đàm phán, trước cả khi hai bên thống nhất hoàn tất giao dịch
Không có NDA không đồng nghĩa không có nghĩa vụ bảo mật, nhưng một NDA được xây dựng tốt sẽ giúp xác định rõ phạm vi bảo mật, mục đích sử dụng, thời hạn và trách nhiệm của bên nhận thông tin
Quan trọng hơn, doanh nghiệp phải kết hợp NDA + Data Room + phân quyền truy cập + lưu vết dữ liệu + phân loại bí mật kinh doanh để tạo thành một hệ thống bảo vệ thực chất
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc tương tự về đất đai hoặc học đường, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

