THÔNG TƯ 32/2026/TT-BXD – SIẾT CHẶT QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG, QUAN TRẮC, KIỂM ĐỊNH VÀ BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
Dưới góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị
CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH KHÔNG CHỈ LÀ CÂU CHUYỆN KỸ THUẬT
Một công trình xây dựng có thể tồn tại hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Trong suốt vòng đời đó, chất lượng công trình không chỉ liên quan đến giá trị tài sản của chủ sở hữu mà còn trực tiếp tác động đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người dân và sự an toàn của cộng đồng.
Những biểu hiện như lún, nứt, võng, nghiêng, biến dạng kết cấu hay suy giảm khả năng chịu lực nếu không được phát hiện, đánh giá và xử lý kịp thời có thể trở thành nguy cơ mất an toàn nghiêm trọng.
Chính vì vậy, quản lý chất lượng công trình không thể chỉ dừng lại ở việc “xây đúng thiết kế”, mà phải hình thành một chu trình xuyên suốt: thí nghiệm – quan trắc – kiểm định – giám định – bảo trì – theo dõi thời hạn sử dụng.
Ngày 22/6/2026, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 32/2026/TT-BXD, quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 207/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 của Chính phủ về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng.
Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Dưới góc nhìn tích hợp Pháp lý – Tâm lý – Giáo dục, ThS. Nguyễn Hữu Long cho rằng điểm đáng chú ý của Thông tư 32/2026/TT-BXD không chỉ nằm ở những yêu cầu kỹ thuật cụ thể, mà quan trọng hơn là việc xây dựng văn hóa phòng ngừa rủi ro và trách nhiệm đối với an toàn công trình.
I. NHỮNG ĐIỂM QUAN TRỌNG NHẤT CỦA THÔNG TƯ 32/2026/TT-BXD
1. Sáu nhóm vấn đề được quy định cụ thể
Theo Điều 1 Thông tư 32/2026/TT-BXD, văn bản tập trung quy định chi tiết sáu nhóm vấn đề quan trọng:
- Kế hoạch tổ chức thí nghiệm;
- Quan trắc công trình trong quá trình thi công;
- Kiểm định xây dựng;
- Trình tự thực hiện và thông báo kết luận giám định xây dựng;
- Quan trắc phục vụ công tác bảo trì công trình;
- Nội dung báo cáo và công bố công trình hết thời hạn sử dụng theo thiết kế.
Đối tượng áp dụng rất rộng, bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến quản lý chất lượng, thi công và bảo trì công trình xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam.
Có thể thấy, pháp luật đang hướng đến quản lý toàn bộ vòng đời của công trình, thay vì chỉ chú trọng giai đoạn thi công.
II. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – 6 NỘI DUNG CỘNG ĐỒNG CẦN ĐẶC BIỆT LƯU Ý
1. Thí nghiệm phải được lập kế hoạch ngay từ quá trình thi công
Theo Điều 2 Thông tư 32/2026/TT-BXD, nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm nghiên cứu:
- Hồ sơ thiết kế;
- Quy chuẩn kỹ thuật;
- Tiêu chuẩn áp dụng;
- Chỉ dẫn kỹ thuật;
- Quy định của hợp đồng xây dựng
để lập kế hoạch tổ chức thí nghiệm.
Kế hoạch phải xác định rõ đối tượng thí nghiệm, bao gồm vật liệu, cấu kiện, kết cấu công trình và thiết bị công trình; phép thử tương ứng; thời điểm dự kiến thực hiện và phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng được sử dụng.
Đặc biệt, nếu kế hoạch tổ chức thí nghiệm được điều chỉnh thì phải được chủ đầu tư chấp thuận trước khi thực hiện.
Góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long
Quy định này cho thấy tư duy quản lý chất lượng đang chuyển mạnh từ cách làm “có vấn đề mới kiểm tra” sang chủ động kiểm soát ngay từ đầu.
Một bao xi măng, một lô thép, một cấu kiện hay thiết bị không đạt yêu cầu nếu được đưa vào công trình có thể tạo ra hệ quả kéo dài hàng chục năm. Vì vậy, thí nghiệm vật liệu và cấu kiện không nên bị nhìn nhận như thủ tục hồ sơ, mà chính là tuyến phòng vệ đầu tiên của an toàn xây dựng.
2. Quan trắc công trình: phát hiện bất thường phải báo cáo và xử lý kịp thời
Điều 3 Thông tư 32/2026/TT-BXD đặt ra trách nhiệm cụ thể đối với nhà thầu thi công trong việc lập đề cương quan trắc trình chủ đầu tư chấp thuận.
Đề cương phải xác định đối tượng, phạm vi, thông số, tần suất và thời điểm quan trắc; nhân lực, thiết bị; quy trình thực hiện; phương pháp phân tích số liệu; đánh giá, kết luận và kiến nghị.
Đặc biệt, khi kết quả quan trắc:
vượt quá giá trị giới hạn cho phép, hoặc
xuất hiện dấu hiệu bất thường ảnh hưởng đến chất lượng, an toàn chịu lực của công trình,
nhà thầu phải kịp thời báo cáo bằng văn bản cho chủ đầu tư và nhà thầu thiết kế để đánh giá và đưa ra biện pháp xử lý.
Đây là một quy định có ý nghĩa rất lớn về phòng ngừa sự cố.
Không thể “làm đẹp số liệu quan trắc”
Thông tư còn thiết lập một cơ chế kiểm soát đáng chú ý.
Nếu kết quả quan trắc do nhà thầu thực hiện có dấu hiệu không trung thực hoặc không bảo đảm độ tin cậy, chủ đầu tư có thể thuê nhà thầu quan trắc độc lập để đánh giá lại.
Nếu kết quả độc lập chứng minh có sai sót hoặc vi phạm thì nhà thầu thi công phải:
khắc phục sai phạm + chịu chi phí phát sinh cho việc quan trắc độc lập.
Theo ThS. Nguyễn Hữu Long, đây là cơ chế pháp lý cần thiết để nhấn mạnh một nguyên tắc:
An toàn công trình không thể được xây dựng trên những con số thiếu trung thực.
3. Kiểm định xây dựng được chuẩn hóa từ nhiệm vụ đến báo cáo kết quả
Theo Điều 4, kiểm định xây dựng bao gồm ba nhóm nội dung lớn:
Thứ nhất, kiểm định chất lượng bộ phận công trình hoặc toàn bộ công trình.
Thứ hai, kiểm định để xác định nguyên nhân hư hỏng, nguyên nhân sự cố.
Thứ ba, kiểm định chất lượng vật liệu, cấu kiện và sản phẩm xây dựng.
Trình tự kiểm định cũng được quy định tương đối chặt chẽ.
Chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc đơn vị quản lý, sử dụng công trình phải lập và phê duyệt nhiệm vụ kiểm định, sau đó lựa chọn tổ chức kiểm định đủ điều kiện năng lực.
Tổ chức kiểm định lập đề cương, thực hiện kiểm định và lập báo cáo kết quả để xem xét, nghiệm thu.
Đề cương kiểm định phải thể hiện rõ mục đích, yêu cầu, đối tượng, tiêu chuẩn áp dụng, nhân lực, phòng thí nghiệm, phương pháp, tiến độ và dự toán chi phí.
Báo cáo kết quả phải phản ánh kết quả thí nghiệm, quan trắc, tính toán, phân tích, đánh giá và kết luận kiểm định.
Đặc biệt: yêu cầu về tính độc lập
Khi kiểm định được thực hiện theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, tổ chức kiểm định phải độc lập với chủ đầu tư, chủ sở hữu, đơn vị quản lý sử dụng công trình và các nhà thầu có liên quan.
Đây là cơ chế quan trọng nhằm hạn chế xung đột lợi ích và bảo đảm tính khách quan của kết luận chuyên môn.
Nếu kết quả kiểm định cho thấy công trình không đáp ứng yêu cầu thiết kế, quy chuẩn hoặc tiêu chuẩn áp dụng, chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc đơn vị quản lý sử dụng phải tổ chức đánh giá và khắc phục.
4. Giám định xây dựng phải đi đến xác định trách nhiệm
Một điểm rất đáng chú ý tại Điều 5 Thông tư 32/2026/TT-BXD là kết luận giám định không chỉ dừng lại ở việc mô tả tình trạng công trình.
Cơ quan giám định phải thực hiện quy trình gồm:
Thông báo tổ chức giám định → thu thập hồ sơ → tổ chức giám định → thông báo kết luận.
Thông báo kết luận giám định phải thể hiện:
- Căn cứ giám định;
- Thông tin đối tượng giám định;
- Nội dung giám định;
- Trình tự thực hiện;
- Kết quả giám định;
- Phân định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan và biện pháp xử lý, khắc phục nếu có.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt bởi khi xảy ra khiếm khuyết hoặc sự cố công trình, câu hỏi không chỉ là “Công trình bị làm sao?”, mà còn phải xác định “Ai chịu trách nhiệm và phải khắc phục như thế nào?”
Trách nhiệm pháp lý nhờ đó được gắn với trách nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội.
5. Công trình đang sử dụng vẫn phải được quan trắc để phục vụ bảo trì
Một nhận thức phổ biến cần thay đổi là: công trình đã nghiệm thu, đưa vào sử dụng thì coi như quá trình quản lý chất lượng đã kết thúc.
Điều 6 Thông tư 32/2026/TT-BXD cho thấy cách tiếp cận hoàn toàn khác.
Đối với các công trình thuộc diện phải quan trắc trong quá trình khai thác, sử dụng, nội dung quan trắc phải được quy định trong quy trình bảo trì.
Các kết cấu chịu lực chính có thể thuộc phạm vi quan trắc như:
- Giàn mái không gian;
- Hệ khung chịu lực chính;
- Khán đài sân vận động;
- Ống khói;
- Si lô…
Các thông số quan trọng có thể bao gồm:
nghiêng – lún – nứt – võng – chuyển vị.
Không chỉ xác định thông số, quy trình còn phải xác định giá trị giới hạn, thời gian quan trắc và chu kỳ đo.
Những công trình nào phải quan trắc?
Phụ lục ban hành kèm Thông tư xác định một số nhóm đáng chú ý:
Nhà, kết cấu dạng nhà; công trình nhiều tầng có sàn; công trình kết cấu nhịp lớn dạng khung: cấp đặc biệt.
Công trình có kết cấu dạng cột, trụ, tháp: từ cấp I trở lên.
Sân vận động, sân thi đấu có khán đài, nhà thi đấu: từ cấp I trở lên.
Đây là những công trình mà sự cố kết cấu có thể gây hậu quả lớn cho cộng đồng, do đó yêu cầu quan trắc trong quá trình khai thác là biện pháp phòng ngừa đặc biệt cần thiết.
6. Công trình hết thời hạn sử dụng theo thiết kế phải được báo cáo và công bố
Theo Điều 7, chủ sở hữu hoặc đơn vị quản lý, sử dụng công trình phải lập báo cáo về công trình hết thời hạn sử dụng theo thiết kế.
Báo cáo phải có các nội dung chủ yếu như:
- Tên và địa điểm công trình;
- Loại, cấp công trình;
- Chủ sở hữu hoặc đơn vị quản lý;
- Các thông số kỹ thuật chính;
- Thời hạn sử dụng theo thiết kế;
- Thời điểm hết thời hạn sử dụng;
- Dự kiến phương án xử lý.
Đáng chú ý, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ công bố thông tin về công trình hết thời hạn sử dụng theo thiết kế trên trang thông tin điện tử thuộc thẩm quyền quản lý.
Quy định này góp phần tăng tính minh bạch trong quản lý công trình và giúp cộng đồng nhận thức rõ hơn rằng:
Công trình không phải là tài sản có thể mặc nhiên sử dụng vô thời hạn.
Khi đã hết thời hạn sử dụng theo thiết kế, vấn đề an toàn phải được xem xét một cách nghiêm túc và có phương án xử lý phù hợp.
III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC: TỪ “SỢ SỰ CỐ” ĐẾN “VĂN HÓA PHÒNG NGỪA”
Theo ThS. Nguyễn Hữu Long, giá trị xã hội đáng chú ý của Thông tư 32/2026/TT-BXD nằm ở việc thúc đẩy tâm lý chủ động phòng ngừa.
Trong thực tế, con người thường có xu hướng phản ứng mạnh khi sự cố đã xuất hiện nhưng lại dễ xem nhẹ những dấu hiệu cảnh báo ban đầu.
Một vết nứt nhỏ, một hiện tượng lún bất thường, một kết cấu có dấu hiệu võng hoặc nghiêng đôi khi bị xem là “chuyện bình thường”. Tuy nhiên, dưới góc độ quản trị rủi ro, chính những tín hiệu nhỏ ấy có thể là dữ liệu quan trọng để ngăn chặn hậu quả lớn.
Thông tư vì vậy mang ý nghĩa giáo dục rất rõ nét: đừng đợi xảy ra sự cố mới tìm nguyên nhân.
Quan trắc là để phát hiện sớm.
Thí nghiệm là để kiểm soát từ đầu.
Kiểm định là để đánh giá khách quan.
Giám định là để làm rõ bản chất và trách nhiệm.
Bảo trì là để duy trì trạng thái an toàn trong suốt quá trình sử dụng.
Đó chính là quá trình hình thành văn hóa an toàn trong xây dựng.
IV. GÓC NHÌN QUẢN TRỊ: TRÁCH NHIỆM PHẢI ĐƯỢC XÁC ĐỊNH ĐẾN TỪNG CHỦ THỂ
Thông tư 32/2026/TT-BXD thể hiện khá rõ tư duy quản trị dựa trên trách nhiệm.
Nhà thầu thi công phải lập kế hoạch thí nghiệm, lập đề cương quan trắc và báo cáo khi phát hiện dấu hiệu bất thường.
Chủ đầu tư có trách nhiệm xem xét, chấp thuận và kiểm soát hoạt động quan trắc, đồng thời có quyền lựa chọn đơn vị độc lập khi nghi ngờ độ tin cậy của kết quả.
Tổ chức kiểm định phải có năng lực phù hợp, thực hiện theo đề cương và chịu trách nhiệm về kết quả chuyên môn.
Chủ sở hữu, chủ quản lý sử dụng công trình không thể thụ động sau khi công trình được bàn giao mà phải tiếp tục thực hiện trách nhiệm bảo trì, quan trắc và quản lý thời hạn sử dụng.
Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng giám định, công bố thông tin và phân định trách nhiệm trong những trường hợp pháp luật quy định.
Như vậy, an toàn công trình không phải trách nhiệm riêng của một chủ thể mà là chuỗi trách nhiệm pháp lý liên tục.
V. 5 KHUYẾN NGHỊ TỪ GÓC NHÌN CỦA THS. NGUYỄN HỮU LONG
Một là, đối với chủ đầu tư: Không xem kế hoạch thí nghiệm và đề cương quan trắc như thủ tục để hoàn thiện hồ sơ. Cần kiểm tra thực chất năng lực phòng thí nghiệm, tổ chức kiểm định và đơn vị quan trắc.
Hai là, đối với nhà thầu: Tuyệt đối không che giấu, chỉnh sửa hoặc làm sai lệch kết quả quan trắc. Khi thông số vượt giới hạn hoặc có dấu hiệu bất thường, việc báo cáo kịp thời vừa là nghĩa vụ pháp lý vừa là trách nhiệm nghề nghiệp.
Ba là, đối với chủ sở hữu và đơn vị quản lý công trình: Sau khi công trình được đưa vào sử dụng, phải duy trì hoạt động bảo trì và quan trắc đối với trường hợp pháp luật yêu cầu. Không nên chờ đến khi công trình xuống cấp nghiêm trọng mới xử lý.
Bốn là, đối với cơ quan quản lý: Cần tăng cường kiểm tra thực chất hồ sơ và dữ liệu kỹ thuật, đặc biệt đối với công trình tập trung đông người, công trình quy mô lớn hoặc có kết cấu phức tạp.
Năm là, đối với người dân: Khi phát hiện công trình nơi mình sinh sống hoặc thường xuyên sử dụng có hiện tượng nứt lớn, lún, nghiêng, võng hoặc biến dạng bất thường, không nên chủ quan. Cần phản ánh kịp thời cho chủ sở hữu, đơn vị quản lý hoặc cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra.
VI. HIỆU LỰC THI HÀNH – MỐC THỜI GIAN CẦN NHỚ
Theo Điều 8 Thông tư 32/2026/TT-BXD:
Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Đồng thời, Thông tư bãi bỏ các Điều 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 19 của Thông tư số 10/2021/TT-BXD ngày 25/8/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Do đó, các chủ đầu tư, nhà thầu, tổ chức kiểm định, đơn vị quản lý vận hành công trình và các chủ thể liên quan cần rà soát lại quy trình nghiệp vụ, biểu mẫu, hồ sơ và phương thức tổ chức thực hiện để bảo đảm phù hợp với quy định mới.
VII. THÔNG ĐIỆP NHÂN VĂN
Dưới góc nhìn Pháp lý – Tâm lý – Giáo dục, ThS. Nguyễn Hữu Long nhấn mạnh:
“Pháp luật về chất lượng công trình cuối cùng vẫn hướng đến bảo vệ con người. Một phép thử được thực hiện nghiêm túc, một thông số quan trắc được báo cáo trung thực, một cuộc kiểm định được tiến hành khách quan hay một dấu hiệu bất thường được phát hiện sớm đều có thể góp phần ngăn chặn một sự cố đáng tiếc.”
Thông tư 32/2026/TT-BXD vì thế không nên chỉ được nhìn nhận như một tập hợp quy trình kỹ thuật dành cho ngành xây dựng.
Đằng sau những quy định về thí nghiệm, quan trắc, kiểm định, giám định và bảo trì là một nguyên tắc rất giản dị:
Công trình phải an toàn thì con người mới an tâm.
Tuân thủ pháp luật về chất lượng xây dựng không chỉ là trách nhiệm trước Nhà nước, mà còn là trách nhiệm đối với tính mạng, tài sản của cộng đồng và đối với những thế hệ sẽ tiếp tục sử dụng công trình trong tương lai.
An toàn không bắt đầu từ khi sự cố xảy ra. An toàn bắt đầu từ sự trung thực, trách nhiệm và phòng ngừa ngay từ hôm nay.
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

