Sai phạm mục đích sử dụng tiền cứu trợ; quy trình kiểm toán và khởi tố cán bộ.
Trong bối cảnh thiên tai gây thiệt hại nghiêm trọng, mỗi khoản tiền cứu trợ đều mang theo sự sẻ chia, kỳ vọng và niềm tin của cộng đồng dành cho người dân vùng bị ảnh hưởng. Vì vậy, việc sử dụng nguồn kinh phí này phải được kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm đúng mục đích, đúng đối tượng và công khai, minh bạch.
Giả sử một Chủ tịch UBND tỉnh tự ý quyết định sử dụng khoản kinh phí được tiếp nhận để cứu trợ, khắc phục hậu quả thiên tai vào việc xây dựng trụ sở làm việc khang trang cho cơ quan, thì đây không chỉ là vấn đề sai phạm trong quản lý tài chính mà còn có thể đặt ra trách nhiệm pháp lý nghiêm trọng đối với người ra quyết định và những cá nhân có liên quan.
Dưới góc nhìn pháp lý của ThS. Nguyễn Hữu Long, cần làm rõ bản chất nguồn tiền, thẩm quyền quyết định sử dụng, hậu quả phát sinh và dấu hiệu lỗi của từng cá nhân để xác định đúng trách nhiệm, tránh đồng nhất mọi hành vi chi sai mục đích với một tội danh hình sự cụ thể.
1. TÓM TẮT TÌNH HUỐNG – THE CASE
Sau một đợt bão lũ nghiêm trọng, tỉnh A tiếp nhận nhiều khoản kinh phí do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đóng góp nhằm hỗ trợ người dân khắc phục thiệt hại về nhà ở, lương thực, sinh kế và các nhu cầu thiết yếu.
Tuy nhiên, thay vì phân bổ và sử dụng nguồn kinh phí theo mục đích cứu trợ đã xác định, Chủ tịch UBND tỉnh A bị cho là đã tự ý chỉ đạo chuyển một phần đáng kể khoản tiền này sang phục vụ dự án xây dựng, cải tạo trụ sở làm việc của cơ quan với quy mô khang trang, hiện đại.
Việc điều chuyển được thực hiện thông qua một số quyết định chi, hồ sơ thanh toán và chứng từ kế toán có liên quan. Trong khi đó, nhiều hộ dân bị thiệt hại do thiên tai vẫn chưa nhận được khoản hỗ trợ cần thiết, hoặc việc hỗ trợ bị chậm trễ do nguồn kinh phí đã bị sử dụng vào mục đích khác.
Sau khi phát hiện dấu hiệu bất thường, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, kiểm toán để xác minh nguồn gốc khoản tiền, quá trình phê duyệt và thực hiện các khoản chi, trách nhiệm của người đứng đầu cùng những cá nhân tham mưu, thực hiện.
Vấn đề đặt ra là: Chủ tịch UBND tỉnh có được quyền tự ý chuyển kinh phí cứu trợ sang xây dựng trụ sở hay không? Cơ quan nào có thẩm quyền kiểm toán, thanh tra và xử lý? Khi nào hành vi này đủ căn cứ để chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra, khởi tố vụ án và khởi tố người có liên quan?
2. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – “LÁ CHẮN VỮNG CHẮC”
2.1. Xác định bản chất nguồn kinh phí – Không thể tùy tiện thay đổi mục đích sử dụng
Trước hết, cần xác định khoản tiền được sử dụng trong tình huống thuộc loại nguồn lực tài chính nào. Đây là bước quan trọng bởi pháp luật điều chỉnh có thể khác nhau tùy theo nguồn hình thành của khoản kinh phí.
Có thể phân biệt hai trường hợp:
- Nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân: Nếu tiền được vận động, tiếp nhận để hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai thì việc tiếp nhận, phân phối và sử dụng phải tuân thủ Nghị định số 93/2021/NĐ-CP. Điều 4 đặt ra nguyên tắc sử dụng kịp thời, hiệu quả, công bằng, công khai và đúng mục đích, đúng đối tượng. Đặc biệt, Điều 5 nghiêm cấm hành vi chiếm đoạt, phân phối hoặc sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện sai mục đích.
- Nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước: Nếu đây là khoản ngân sách cấp trên hỗ trợ ngân sách cấp dưới để khắc phục hậu quả thiên tai thì phải áp dụng pháp luật về ngân sách nhà nước. Nghị định 93/2021/NĐ-CP không điều chỉnh các khoản hỗ trợ ngân sách này.
Như vậy, dù khoản tiền có nguồn gốc từ đóng góp tự nguyện hay ngân sách nhà nước, việc sử dụng đều phải tuân thủ mục tiêu, nhiệm vụ chi và thẩm quyền được pháp luật quy định. Không thể lấy lý do trụ sở cơ quan cần được nâng cấp để mặc nhiên chuyển nguồn kinh phí cứu trợ sang mục đích xây dựng.
Đối với ngân sách nhà nước, Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, quy định việc sử dụng ngân sách phải tuân thủ dự toán và nhiệm vụ chi; Điều 10 xác định dự phòng ngân sách được sử dụng cho phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai cùng các nhiệm vụ cấp bách thuộc phạm vi luật định. Người đứng đầu đơn vị sử dụng ngân sách phải chịu trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng ngân sách theo Điều 63.
Vì vậy, cần kiểm tra quyết định phân bổ kinh phí, mục tiêu hỗ trợ, văn bản phê duyệt và hồ sơ thanh toán để xác định hành vi chuyển tiền có trái quy định hay không.
2.2. Xác định trách nhiệm của Chủ tịch UBND tỉnh và những người tham gia quyết định chi
Không phải cứ có một khoản chi sai mục đích thì toàn bộ trách nhiệm đều mặc nhiên thuộc về Chủ tịch UBND tỉnh. Cần xác định cụ thể ai là người đề xuất, ai tham mưu, ai ký quyết định, ai kiểm soát chi, ai lập chứng từ và ai trực tiếp thực hiện thanh toán.
Các vấn đề cần làm rõ gồm:
- Chủ tịch UBND tỉnh có trực tiếp ban hành hoặc chỉ đạo việc chuyển nguồn kinh phí hay không?
- Việc điều chuyển có được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận hay không?
- Người tham mưu có biết khoản tiền được dành riêng cho cứu trợ thiên tai không?
- Hồ sơ thanh toán có bị lập khống, hợp thức hóa hoặc ghi sai nội dung chi hay không?
- Có cá nhân, tổ chức nào được hưởng lợi bất chính hoặc có sự thông đồng trong quá trình thực hiện hay không?
Nếu người đứng đầu cố ý quyết định sử dụng nguồn tiền trái mục đích, những người tham mưu, ký duyệt và thực hiện biết rõ sai phạm nhưng vẫn tham gia thì tùy tính chất, mức độ, hậu quả và vai trò của từng người, có thể phát sinh trách nhiệm hành chính, kỷ luật, trách nhiệm vật chất hoặc trách nhiệm hình sự.
Điều quan trọng là phải phân biệt giữa sai sót nghiệp vụ, quyết định chi trái thẩm quyền, hành vi cố ý làm trái vì vụ lợi và hành vi chiếm đoạt tài sản. Mỗi dạng hành vi có căn cứ xử lý khác nhau.
2.3. Dấu hiệu tội phạm có thể được xem xét – Không bỏ qua bản chất chiếm đoạt và hậu quả
Tùy kết quả xác minh, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét một số tội danh sau:
Thứ nhất, tội tham ô tài sản – Điều 353 Bộ luật Hình sự.
Nếu người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí công tác để chiếm đoạt khoản tiền mà mình có trách nhiệm quản lý, hành vi có thể bị xem xét về tội tham ô tài sản.
Đáng chú ý, Điều 353 có quy định tình tiết định khung tăng nặng đối với hành vi chiếm đoạt tiền, tài sản dùng để trợ cấp, quyên góp cho vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.
Tuy nhiên, cần chứng minh được yếu tố chiếm đoạt. Việc sử dụng sai mục đích để xây dựng trụ sở chưa tự động đồng nghĩa với hành vi tham ô; phải làm rõ người thực hiện có ý thức chiếm đoạt hay không, tài sản thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của họ như thế nào và các dấu hiệu cấu thành tội phạm khác.
Thứ hai, tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí – Điều 219 Bộ luật Hình sự.
Tội danh này có thể được đặt ra nếu người được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước vi phạm chế độ quản lý, sử dụng, gây thất thoát hoặc lãng phí đạt ngưỡng luật định và đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Cần đặc biệt thận trọng khi áp dụng điều luật này: phải xác định khoản tiền có thuộc phạm vi tài sản nhà nước được điều chỉnh hay không, hành vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản nào đã xảy ra và thiệt hại hoặc lãng phí thực tế được xác định ra sao.
Thứ ba, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ – Điều 356 Bộ luật Hình sự.
Nếu người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái công vụ và gây thiệt hại về tài sản hoặc xâm phạm lợi ích được điều luật bảo vệ, có thể xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 356.
Việc lựa chọn tội danh phải dựa trên chứng cứ về động cơ, hành vi, hậu quả, quan hệ nhân quả và dấu hiệu cấu thành cụ thể; không được suy luận chỉ từ chức vụ của người ra quyết định hoặc từ việc công trình được xây dựng bằng nguồn tiền có mục đích cứu trợ.
3. GÓC NHÌN TÂM LÝ – QUẢN TRỊ – TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI – “CHÌA KHÓA NHÂN VĂN”
Sai phạm trong sử dụng kinh phí cứu trợ không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ quản lý tài chính công. Đằng sau mỗi khoản tiền bị chuyển hướng là những nhu cầu thực tế của người dân đang chịu ảnh hưởng bởi thiên tai: một mái nhà cần sửa chữa, một gia đình cần lương thực, một người lao động cần vốn để khôi phục sinh kế.
Khi nguồn lực được huy động từ sự đóng góp và lòng tin của cộng đồng nhưng lại được sử dụng vào một mục tiêu không phù hợp, hậu quả không chỉ nằm ở con số thất thoát hoặc lãng phí. Điều đáng quan tâm hơn là người dân có thể mất đi cơ hội được hỗ trợ đúng lúc, trong khi niềm tin vào cơ chế tiếp nhận và phân phối cứu trợ bị ảnh hưởng.
Ở góc độ quản trị, tình huống còn đặt ra những vấn đề cần được xem xét:
- Trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu: Người đứng đầu cơ quan hành chính phải tuân thủ pháp luật về quản lý ngân sách, tài sản và nguồn cứu trợ; không thể dùng thẩm quyền điều hành để thay đổi mục đích sử dụng nguồn tiền trái quy định.
- Trách nhiệm của bộ máy tham mưu: Cơ quan tài chính, kế toán, đơn vị chủ đầu tư và các bộ phận kiểm soát chi phải thực hiện đúng chức trách, không hợp thức hóa quyết định hoặc chứng từ trái pháp luật.
- Trách nhiệm giải trình với cộng đồng: Người dân và tổ chức đóng góp có quyền được biết nguồn kinh phí được tiếp nhận, phân bổ và sử dụng như thế nào theo quy định pháp luật.
- Ưu tiên lợi ích của người bị thiên tai: Nguồn lực cứu trợ cần được phân phối đúng đối tượng, kịp thời và hiệu quả; không thể để nhu cầu xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất của cơ quan lấn át mục tiêu hỗ trợ người dân.
Một trụ sở làm việc khang trang có thể phục vụ hoạt động của cơ quan, nhưng không thể được xây dựng bằng cách tước đi nguồn lực vốn dành cho những người đang cần được cứu trợ.
4. GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CỦA CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG
Để xử lý tình huống một cách toàn diện, cần triển khai đồng bộ các giải pháp kiểm toán, xác minh trách nhiệm, xử lý sai phạm và khắc phục hậu quả.
Bước 1. Kiểm toán, thanh tra đột xuất và truy nguyên toàn bộ dòng tiền
Khi xuất hiện dấu hiệu sử dụng kinh phí cứu trợ sai mục đích, cơ quan có thẩm quyền cần xem xét tổ chức kiểm toán, thanh tra hoặc kiểm tra theo chức năng, thẩm quyền để làm rõ toàn bộ quá trình tiếp nhận và sử dụng nguồn tiền.
Trọng tâm xác minh cần bao gồm:
- Nguồn gốc khoản tiền: tiền đóng góp tự nguyện, ngân sách nhà nước hỗ trợ hay nguồn tài chính hợp pháp khác.
- Mục đích tiếp nhận, điều kiện phân bổ và văn bản xác định nhiệm vụ chi.
- Quyết định điều chuyển, phê duyệt dự án xây dựng, hồ sơ lựa chọn nhà thầu và hợp đồng thi công.
- Chứng từ kế toán, lệnh chi, sao kê tài khoản, hồ sơ Kho bạc Nhà nước và tài liệu thanh toán.
- Khối lượng công trình thực tế, giá trị đã thanh toán, khoản tiền còn lại và thiệt hại phát sinh.
- Vai trò, trách nhiệm của Chủ tịch UBND tỉnh, cơ quan tham mưu, đơn vị sử dụng kinh phí và các cá nhân liên quan.
Việc kiểm toán cần làm rõ tính hợp pháp, hợp lý của các khoản chi; xác định sai phạm, thiệt hại hoặc lãng phí nếu có; kiến nghị xử lý tài chính và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan.
Theo Quyết định số 10/2025/QĐ-KTNN, quy trình kiểm toán của Kiểm toán nhà nước được tổ chức theo các bước nghiệp vụ, từ chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán đến lập và gửi báo cáo kiểm toán, theo dõi việc thực hiện kết luận, kiến nghị. Đặc biệt, khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm, Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định pháp luật.
Cần lưu ý: kiểm toán và thanh tra là hoạt động xác minh, đánh giá và kiến nghị xử lý theo thẩm quyền; không thay thế hoạt động điều tra, truy tố và xét xử hình sự.
Bước 2. Chuyển hồ sơ, xác minh dấu hiệu tội phạm và khởi tố khi đủ căn cứ
Nếu kết quả kiểm toán, thanh tra hoặc nguồn tin khác cho thấy có dấu hiệu tội phạm, hồ sơ cần được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền để tiếp nhận, giải quyết theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình xác minh cần tập trung vào các nội dung:
- Làm rõ hành vi và chủ thể: Ai là người đề xuất, quyết định, chỉ đạo, phê duyệt và trực tiếp thực hiện việc chuyển kinh phí? Ai biết rõ nguồn tiền được dành cho cứu trợ nhưng vẫn tham gia sử dụng trái mục đích?
- Thu thập, bảo toàn chứng cứ: Thu thập quyết định hành chính, hồ sơ tài chính, dữ liệu giao dịch ngân hàng, chứng từ Kho bạc, hồ sơ dự án, hợp đồng xây dựng, thư từ trao đổi và lời khai của người có liên quan.
- Xác định động cơ và hậu quả: Làm rõ có hay không hành vi chiếm đoạt, vụ lợi, động cơ cá nhân khác; xác định số tiền bị sử dụng sai mục đích, giá trị thiệt hại hoặc lãng phí và ảnh hưởng đến người dân.
- Đánh giá căn cứ khởi tố: Khi có đủ căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành khởi tố vụ án; việc khởi tố bị can đối với từng cá nhân phải có căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội.
Trong quá trình này, cần bảo đảm không suy đoán tội danh từ chức vụ của người bị xem xét. Chủ tịch UBND tỉnh, người tham mưu, người ký chứng từ hay đơn vị thi công đều phải được đánh giá trên cơ sở hành vi cụ thể và chứng cứ liên quan.
Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, tạm đình chỉ công tác hoặc biện pháp tố tụng khác (nếu có) phải tuân thủ đúng điều kiện, thẩm quyền và trình tự pháp luật; không được xem là hình thức kết luận người đó có tội trước khi có bản án có hiệu lực pháp luật.
Bước 3. Thu hồi, khắc phục hậu quả và hoàn thiện cơ chế kiểm soát nguồn cứu trợ
Song song với quá trình xử lý trách nhiệm, cần ưu tiên khắc phục hậu quả để bảo đảm quyền lợi của người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai.
Các giải pháp cụ thể gồm:
- Xác định và thu hồi khoản kinh phí đã sử dụng trái quy định; xử lý các khoản chi sai, thanh toán không đúng và khoản tiền phải hoàn trả theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền.
- Rà soát danh sách người dân chưa được hỗ trợ, xác định nhu cầu cấp thiết và tổ chức phân phối nguồn lực còn lại theo đúng mục tiêu, đối tượng.
- Xem xét trách nhiệm hoàn trả, bồi thường và xử lý kỷ luật đối với cá nhân, tổ chức có vi phạm theo quy định pháp luật.
- Công khai thông tin về tiếp nhận, phân bổ, sử dụng và quyết toán kinh phí cứu trợ trong phạm vi pháp luật yêu cầu.
- Thiết lập cơ chế kiểm soát nhiều tầng đối với nguồn kinh phí cứu trợ; phân định rõ trách nhiệm giữa người quyết định, người kiểm soát tài chính và người thực hiện thanh toán.
- Tăng cường giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức xã hội và cộng đồng đối với quá trình tiếp nhận, phân phối và sử dụng nguồn cứu trợ.
Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế tách bạch tài khoản, chứng từ và mục tiêu chi giữa kinh phí cứu trợ với kinh phí đầu tư xây dựng, hoạt động thường xuyên của cơ quan. Việc tách bạch này giúp hạn chế nguy cơ điều chuyển tùy tiện và tạo điều kiện truy vết dòng tiền khi có dấu hiệu bất thường.
GÓC NHÌN CHUYÊN GIA:
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc về pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi cho chuyên gia tại: https://tuvanphapluattamlygiaoduc.vn/gui-cau-hoi-den-chuyen-gia/
hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.
Từ khoá: Tư vấn; Luật đất đai; Bộ luật dân sự; Đòi lại đất; Giải pháp.

