TÌNH HUỐNG SỐ 948: CHỦ TỊCH UBND XÃ TỰ Ý SỬ DỤNG ĐẤT CÔNG XÂY DỰNG SÂN THỂ THAO PHỤC VỤ DÒNG HỌ HỌ MÌNH KHI CHƯA CÓ CĂN CỨ PHÁP LÝ THÌ XỬ LÝ THẾ NÀO?

14 / 100 Điểm SEO

 

Sử dụng trái phép đất công – Quy trình kiểm tra, thu hồi đất và xử lý kỷ luật cán bộ vi phạm

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Đất công được giao cho cơ quan, tổ chức quản lý hoặc sử dụng phải phục vụ đúng mục đích, đúng thẩm quyền và lợi ích chung; không thể trở thành tài sản riêng để bất kỳ cá nhân nào tùy tiện định đoạt.

Đặc biệt, người đứng đầu chính quyền cấp xã có trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương, nhưng không vì thế mà có quyền tự ý sử dụng đất công phục vụ lợi ích riêng hoặc lợi ích của một nhóm người có quan hệ thân thuộc.

Theo góc nhìn phân tích pháp lý của ThS. Nguyễn Hữu Long, tình huống giả định dưới đây đặt ra yêu cầu phải làm rõ nguồn gốc và chế độ pháp lý của khu đất, thẩm quyền quyết định việc sử dụng đất, trách nhiệm của người đứng đầu và phương án khôi phục việc quản lý, sử dụng đất đúng quy định.

1. TÓM TẮT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ – THE CASE

Tại xã X có một khu đất công do Nhà nước giao địa phương quản lý. Khu đất này được xác định trong hồ sơ địa chính là quỹ đất phục vụ mục đích công cộng, chưa có quyết định giao hoặc cho thuê để một tổ chức, cá nhân cụ thể sử dụng vào mục đích xây dựng sân thể thao.

Tuy nhiên, ông Nam – Chủ tịch UBND xã X – đã tự ý chỉ đạo đưa máy móc, vật liệu đến san lấp mặt bằng và xây dựng sân thể thao trên khu đất này. Công trình được xây dựng nhằm phục vụ hoạt động thể thao, sinh hoạt của dòng họ ông Nam, không phải công trình được xác định là dự án công cộng của địa phương theo một quyết định hợp pháp.

Đáng chú ý, việc xây dựng được tiến hành khi chưa làm rõ căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chưa có quyết định giao đất hoặc cho phép sử dụng đất đúng thẩm quyền và chưa hoàn thiện các thủ tục pháp lý có liên quan.

Sau khi người dân phản ánh, cơ quan cấp trên tiến hành kiểm tra và phát hiện khu đất đang được sử dụng không đúng với hồ sơ quản lý. Vụ việc đặt ra những câu hỏi: Chủ tịch UBND xã có quyền tự quyết định sử dụng đất công hay không? Việc xây dựng sân thể thao cho dòng họ có thể bị xem là sử dụng đất công trái phép không? Cơ quan có thẩm quyền cần thực hiện quy trình kiểm tra, thu hồi đất và xử lý công trình như thế nào? Trách nhiệm của người đứng đầu sẽ được xác định ra sao?

Đây không chỉ là câu chuyện về một công trình xây dựng không đúng quy trình, mà còn là vấn đề về giới hạn quyền lực công, trách nhiệm quản lý tài sản công và nguyên tắc mọi cá nhân đều phải tuân thủ pháp luật.

2. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – “LÁ CHẮN VỮNG CHẮC”

2.1. Đất công không phải tài sản riêng của người đứng đầu chính quyền địa phương

Theo Điều 4 Luật Đất đai năm 2024, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và quản lý quỹ đất phải được thực hiện theo đúng căn cứ, thẩm quyền, trình tự do pháp luật quy định.

Đối với đất được Nhà nước giao để quản lý, chủ thể được giao quản lý có trách nhiệm bảo vệ, quản lý và sử dụng theo đúng chế độ pháp lý của khu đất. Việc quản lý không đồng nghĩa với quyền tự ý phân bổ, cho mượn, cho sử dụng hoặc chuyển đổi mục đích đất để phục vụ nhu cầu riêng.

Vì vậy, dù ông Nam là Chủ tịch UBND xã, ông cũng không thể chỉ dựa vào chức vụ của mình để tự quyết định sử dụng khu đất công xây dựng sân thể thao cho dòng họ. Cần xác định rõ ông Nam có thẩm quyền gì đối với khu đất, có quyết định hợp pháp nào cho phép triển khai công trình hay không và việc sử dụng đất có phù hợp với mục đích được xác định trong hồ sơ quản lý hay không.

Đặc biệt, việc xây dựng một công trình phục vụ riêng cho dòng họ không đương nhiên được coi là hoạt động phục vụ lợi ích công cộng chỉ vì công trình có chức năng thể thao. Mục đích thực tế, đối tượng được hưởng lợi, chủ thể quản lý, cơ chế sử dụng và căn cứ pháp lý của công trình đều phải được xem xét.

2.2. Sử dụng đất công sai mục đích, sai thẩm quyền: Cần xác định đúng hành vi vi phạm

Luật Đất đai năm 2024 quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý và sử dụng đất đai; đồng thời đặt ra trách nhiệm đối với cơ quan, người có thẩm quyền trong việc quản lý đất được Nhà nước giao.

Đáng chú ý, Điều 240 Luật Đất đai năm 2024 và Điều 109 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định về các hành vi vi phạm trong quản lý nhà nước về đất đai. Trong đó, các hành vi liên quan đến quản lý đất được Nhà nước giao để quản lý bao gồm sử dụng đất không đúng mục đích, để đất bị lấn chiếm mà không có biện pháp ngăn chặn, cho thuê, cho mượn hoặc chuyển nhượng trái quy định.

Đối với tình huống này, cần xác minh ít nhất ba nhóm vấn đề:

  • Nguồn gốc và chế độ pháp lý của khu đất: Đất được Nhà nước giao cho xã quản lý hay đã được giao cho một chủ thể sử dụng cụ thể? Mục đích sử dụng được ghi nhận trong hồ sơ địa chính là gì?
  • Thẩm quyền quyết định: Có quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép sử dụng hoặc chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan có thẩm quyền hay không? Ai là người ký, chỉ đạo và tổ chức thực hiện?
  • Mục đích sử dụng thực tế: Công trình phục vụ cộng đồng hay chỉ phục vụ một dòng họ? Ai đầu tư, quản lý, khai thác và quyết định việc sử dụng sân thể thao?

Cần lưu ý, cụm từ “chưa có quy hoạch” không thể tự nó là căn cứ duy nhất để kết luận mọi hoạt động xây dựng đều trái pháp luật. Phải đối chiếu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng (nếu thuộc trường hợp phải có), mục đích sử dụng đất và các thủ tục pháp lý áp dụng cho chính khu đất, công trình đó.

2.3. Thu hồi đất và xử lý công trình: Không thể tùy tiện áp dụng một biện pháp duy nhất

Khi phát hiện đất công bị sử dụng sai quy định, cơ quan có thẩm quyền phải xác định bản chất pháp lý của hành vi để lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp.

Theo Điều 81 Luật Đất đai năm 2024, Nhà nước có thể thu hồi đất trong các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai được luật quy định. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp sử dụng đất công sai quy trình đều tự động thuộc trường hợp thu hồi đất theo điều này. Cần phân biệt giữa đất được giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng với đất được giao cho cơ quan, tổ chức quản lý; đồng thời xác định chính xác hành vi vi phạm và căn cứ thu hồi tương ứng.

Nếu khu đất đang được một cá nhân hoặc nhóm người chiếm giữ, sử dụng trái phép, cơ quan chức năng phải xem xét biện pháp xử lý hành vi chiếm đất, sử dụng đất không đúng quy định và khôi phục tình trạng quản lý hợp pháp. Nếu có quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc cho phép chuyển mục đích trái pháp luật thì phải xem xét tính hợp pháp của quyết định đó và xử lý theo thẩm quyền.

Đối với công trình sân thể thao đã xây dựng, việc tháo dỡ, khắc phục hậu quả hoặc xử lý tài sản trên đất cũng phải căn cứ vào quy định về đất đai, xây dựng và xử lý vi phạm hành chính tương ứng. Không thể chỉ căn cứ vào việc công trình phục vụ dòng họ để mặc nhiên quyết định phá dỡ mà bỏ qua trình tự, thủ tục pháp luật.

Mục tiêu cuối cùng là chấm dứt việc sử dụng đất trái phép, khôi phục quyền quản lý hợp pháp của Nhà nước và bảo đảm đất công được sử dụng đúng mục đích.

2.4. Trách nhiệm của Chủ tịch UBND xã: Xử lý kỷ luật, xem xét trách nhiệm hình sự khi đủ căn cứ

Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và Nghị định số 172/2025/NĐ-CP, cán bộ, công chức có hành vi vi phạm nghĩa vụ công vụ, đạo đức công vụ, quy định về đất đai hoặc quản lý tài sản nhà nước có thể bị xem xét xử lý kỷ luật theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi.

Đối với Chủ tịch UBND cấp xã, cần lưu ý đây là người giữ chức vụ theo nhiệm kỳ, thuộc nhóm cán bộ. Do đó, việc xử lý kỷ luật phải được thực hiện theo thẩm quyền và trình tự áp dụng đối với cán bộ, không thể máy móc áp dụng quy trình kỷ luật dành cho công chức thông thường. Theo Điều 13 Nghị định số 172/2025/NĐ-CP, thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với cán bộ được xác định theo cấp có thẩm quyền phê chuẩn hoặc quyết định phê duyệt kết quả bầu cử; quy định hiện hành về thẩm quyền xử lý Chủ tịch UBND cấp xã cũng cần được đối chiếu khi giải quyết vụ việc cụ thể.

Ngoài trách nhiệm kỷ luật, nếu có căn cứ chứng minh ông Nam lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi vi phạm trong quản lý đất đai và đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét Điều 229 Bộ luật Hình sự về tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai. Nếu hành vi có dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây thiệt hại hoặc gây hậu quả theo quy định, cũng cần xem xét các tội danh tương ứng, trong đó có Điều 356 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ: việc tự ý chỉ đạo xây dựng công trình trên đất công không mặc nhiên cấu thành tội phạm theo Điều 229. Điều luật này quy định các hành vi cụ thể liên quan đến việc giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, cho phép chuyển quyền hoặc chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật và các điều kiện định lượng, định tính tương ứng. Vì vậy, phải làm rõ hành vi cụ thể của ông Nam trước khi xác định tội danh.

3. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ – “CHÌA KHÓA NHÂN VĂN”

3.1. Lợi ích dòng họ không thể đặt cao hơn lợi ích cộng đồng

Trong đời sống xã hội, hoạt động thể thao và sinh hoạt dòng họ có thể góp phần gắn kết cộng đồng, duy trì truyền thống và nâng cao đời sống tinh thần. Tuy nhiên, những giá trị tích cực đó không thể được sử dụng làm lý do hợp thức hóa việc chiếm dụng hoặc sử dụng tài sản công trái quy định.

Điểm đáng lo ngại trong tình huống này không nằm ở việc xây dựng một sân thể thao, mà nằm ở khả năng người có chức vụ đã sử dụng quyền lực được Nhà nước giao để ưu tiên lợi ích cho nhóm người có quan hệ thân thuộc. Nếu tài sản công bị biến thành phương tiện phục vụ lợi ích riêng, nguyên tắc bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng nguồn lực công sẽ bị xâm phạm.

Người dân có quyền đặt câu hỏi: Vì sao đất công lại được sử dụng cho một dòng họ? Căn cứ nào cho phép xây dựng? Ai chịu trách nhiệm về việc quản lý khu đất? Những câu hỏi đó cần được trả lời bằng hồ sơ, quyết định và kết quả kiểm tra minh bạch, không phải bằng sự giải thích chủ quan của người đứng đầu.

3.2. Trách nhiệm người đứng đầu phải gắn với kiểm soát quyền lực

Chủ tịch UBND xã là người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý tại địa phương. Chức vụ này đi kèm trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ lợi ích công cộng và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền.

Nếu người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo sử dụng đất công trái quy định, trách nhiệm không thể được đẩy xuống cho cán bộ chuyên môn hoặc những người trực tiếp thi công. Cơ quan xác minh cần làm rõ ai đề xuất, ai phê duyệt, ai chỉ đạo, ai tổ chức thực hiện và ai hưởng lợi từ công trình.

Đồng thời, cũng cần kiểm tra trách nhiệm của những người biết rõ sai phạm nhưng vẫn tham gia, hợp thức hóa hồ sơ hoặc không thực hiện nhiệm vụ ngăn chặn theo quy định. Việc xem xét trách nhiệm phải dựa trên hành vi, mức độ lỗi và thẩm quyền thực tế của từng cá nhân, tránh quy kết tập thể một cách chung chung.

4. GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CỦA CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG

Bước 1. Kiểm tra, thanh tra đột xuất và xác định chính xác tình trạng pháp lý của khu đất

Khi có phản ánh về việc Chủ tịch UBND xã tự ý sử dụng đất công, cơ quan cấp trên và cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra cần xem xét tiến hành xác minh theo thẩm quyền.

Nội dung kiểm tra cần tập trung vào:

  • Thu thập hồ sơ địa chính, bản đồ, trích lục, tài liệu xác định nguồn gốc và mục đích sử dụng đất.
  • Kiểm tra quyết định giao đất, cho thuê đất, giao quản lý đất hoặc văn bản cho phép sử dụng khu đất.
  • Đối chiếu hiện trạng thực tế với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các hồ sơ xây dựng có liên quan.
  • Xác định nguồn kinh phí xây dựng, chủ thể đầu tư, đơn vị thi công, người quản lý và đối tượng thực tế sử dụng công trình.
  • Làm rõ vai trò của Chủ tịch UBND xã và các cá nhân tham gia vào quá trình chỉ đạo, thực hiện.

Trong quá trình xác minh, cần lập biên bản hiện trạng, ghi nhận diện tích đất bị sử dụng, mức độ xây dựng, tài sản trên đất và các dấu hiệu thay đổi hiện trạng. Tài liệu, chứng cứ phải được bảo quản đúng quy định để tránh việc sửa chữa, hợp thức hóa hoặc tẩu tán tài sản liên quan.

Nếu công trình đang tiếp tục được xây dựng và có căn cứ pháp lý để áp dụng biện pháp ngăn chặn, cơ quan có thẩm quyền cần xem xét yêu cầu dừng hoạt động vi phạm theo đúng trình tự pháp luật.

Bước 2. Xử lý đất và công trình, khôi phục việc quản lý tài sản công

Sau khi có kết quả xác minh, cơ quan có thẩm quyền cần xác định biện pháp xử lý phù hợp với từng hành vi:

  • Nếu xác định có hành vi sử dụng đất không đúng mục đích, lấn chiếm hoặc chiếm đất, tiến hành xử lý vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
  • Nếu có quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật, xem xét xử lý quyết định đó theo thẩm quyền và căn cứ pháp lý tương ứng.
  • Nếu thuộc trường hợp thu hồi đất theo Luật Đất đai, thực hiện trình tự thu hồi, bàn giao đất và xử lý tài sản trên đất theo quy định.
  • Nếu công trình xây dựng không có hoặc không đáp ứng các điều kiện pháp lý bắt buộc, xem xét biện pháp xử lý theo pháp luật về xây dựng, bao gồm việc buộc khắc phục hậu quả hoặc tháo dỡ trong trường hợp pháp luật quy định.

Sau khi chấm dứt việc sử dụng trái phép, khu đất phải được bàn giao cho chủ thể có trách nhiệm quản lý. Cơ quan chức năng cần cập nhật hồ sơ địa chính, kiểm kê tài sản và công khai phương án quản lý, sử dụng tiếp theo để ngăn ngừa việc tái chiếm dụng.

Bước 3. Xử lý trách nhiệm cán bộ, thu hồi lợi ích bất hợp pháp và phòng ngừa tái diễn

Trên cơ sở kết luận kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền cần xem xét trách nhiệm của Chủ tịch UBND xã và các cá nhân liên quan. Việc xử lý kỷ luật phải tuân thủ Luật Cán bộ, công chức năm 2025, Nghị định số 172/2025/NĐ-CP và các quy định có liên quan; bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, căn cứ và mức độ vi phạm.

Nếu phát hiện dấu hiệu tội phạm, hồ sơ phải được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét, giải quyết theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc khởi tố chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ pháp luật, không thể thay thế bằng một quyết định kỷ luật hành chính.

Bên cạnh đó, cần xác định và thu hồi các khoản lợi ích bất hợp pháp, xử lý thiệt hại về tài sản công nếu có căn cứ; xem xét trách nhiệm bồi thường, hoàn trả theo quy định pháp luật tương ứng.

Về lâu dài, địa phương cần thực hiện một số biện pháp:

  • Rà soát, lập danh mục và công khai các khu đất công do địa phương quản lý.
  • Công khai mục đích sử dụng, tình trạng pháp lý và đơn vị chịu trách nhiệm quản lý từng khu đất.
  • Tăng cường giám sát các quyết định liên quan đến giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và đầu tư công trình trên đất công.
  • Thiết lập cơ chế tiếp nhận phản ánh của người dân về tình trạng lấn chiếm, sử dụng đất công sai mục đích.
  • Kiểm tra trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra việc sử dụng đất công trái phép hoặc có dấu hiệu ưu ái cho tổ chức, cá nhân có quan hệ thân thuộc.

GÓC NHÌN CHUYÊN GIA:

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc về pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi cho chuyên gia tại: https://tuvanphapluattamlygiaoduc.vn/gui-cau-hoi-den-chuyen-gia/

hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

Từ khoá: Tư vấn; Luật đất đai; Bộ luật dân sự; Đòi lại đất; Giải pháp.

 

Để lại một bình luận