TÌNH HUỐNG SỐ 522: BÁC SĨ NGOẠI KHOA MỔ NHẦM CHÂN TRÁI SANG CHÂN PHẢI DO CẨU THẢ, KHÔNG ĐỐI CHIẾU HỒ SƠ BỆNH ÁN TRƯỚC KHI RẠCH DAO: CÓ THỂ BỊ TƯỚC GIẤY PHÉP HÀNH NGHỀ BAO LÂU?

11 / 100 Điểm SEO

TÌNH HUỐNG SỐ 522: BÁC SĨ NGOẠI KHOA MỔ NHẦM CHÂN TRÁI SANG CHÂN PHẢI DO CẨU THẢ, KHÔNG ĐỐI CHIẾU HỒ SƠ BỆNH ÁN TRƯỚC KHI RẠCH DAO: CÓ THỂ BỊ TƯỚC GIẤY PHÉP HÀNH NGHỀ BAO LÂU?

LUẬT ÁP DỤNG

  • Văn bản hợp nhất 26/VBHN-VPQH năm 2026 hợp nhất Luật Khám bệnh, chữa bệnh
  • Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, hiện là văn bản xử phạt mới cần ưu tiên áp dụng trong năm 2026. 
  • Bộ luật Dân sự 2015: trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và bồi thường thiệt hại. 
  • Bộ luật Hình sự, đặc biệt Điều 315 nếu hành vi vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh gây hậu quả đạt ngưỡng trách nhiệm hình sự.

I. TÓM TẮT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ

Bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật chân trái. Trước khi phẫu thuật, bác sĩ không thực hiện đầy đủ việc đối chiếu hồ sơ bệnh án, chẩn đoán, chỉ định phẫu thuật, vị trí tổn thương và các bước xác nhận an toàn cần thiết.

Do lỗi cẩu thả, bác sĩ đã rạch dao và thực hiện phẫu thuật nhầm chân phải.

Đây là tình huống có dấu hiệu của sai sót chuyên môn kỹ thuật, bởi hành vi không chỉ gây tổn hại thực tế cho người bệnh mà còn cho thấy khả năng vi phạm trách nhiệm trong chăm sóc, điều trị và quy định chuyên môn kỹ thuật.

Theo Điều 100 Luật Khám bệnh, chữa bệnh, người hành nghề được xác định có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi Hội đồng chuyên môn xác định có ít nhất một trong hai hành vi: vi phạm trách nhiệm trong chăm sóc, điều trị người bệnh hoặc vi phạm quy định về chuyên môn kỹ thuật. 

Điểm mấu chốt Không nên kết luận ngay rằng: “Mổ nhầm chân = đương nhiên bị tước giấy phép hành nghề.” Mà phải thực hiện quy trình xác định mức độ sai sót chuyên môn kỹ thuật thông qua Hội đồng chuyên môn. Đây là điểm rất quan trọng về mặt pháp lý.

II. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – “LÁ CHẮN VỮNG CHẮC”

  1. Bác sĩ có thể bị tước giấy phép hành nghề bao lâu?

Không có quy định rằng mổ nhầm chân thì mặc nhiên bị tước 3 tháng, 6 tháng hay 24 tháng.

Phải phân biệt:

Trường hợp 1: Sai sót đến mức phải đình chỉ hành nghề theo Điều 34 Văn bản hợp nhất 26/VBHN-VPQH năm 2026, nếu Hội đồng chuyên môn xác định người hành nghề có sai sót chuyên môn kỹ thuật đến mức phải đình chỉ nhưng chưa đến mức thu hồi giấy phép, thời hạn đình chỉ có thể từ: 01 tháng đến 24 tháng, tùy tính chất, mức độ sai sót. Như vậy, nếu hành vi mổ nhầm chân được xác định là sai sót nghiêm trọng nhưng chưa đến mức thu hồi giấy phép thì khung đình chỉ là 1–24 tháng.

Trường hợp 2: Sai sót đến mức phải thu hồi giấy phép theo điểm e khoản 1 Điều 35, giấy phép hành nghề bị thu hồi khi Hội đồng chuyên môn xác định người hành nghề có sai sót chuyên môn kỹ thuật đến mức phải thu hồi giấy phép hành nghề. Khi đó, đây không phải là “tước trong bao nhiêu tháng”.

Nói chính xác về pháp lý là: Giấy phép hành nghề bị thu hồi, không phải bị tước có thời hạn.

Sau khi bị thu hồi, nếu muốn tiếp tục hành nghề thì người hành nghề phải thực hiện thủ tục cấp mới hoặc cấp lại giấy phép hành nghề theo quy định. 

Vì vậy, câu trả lời trọng tâm của tình huống là: Nếu chỉ bị đình chỉ hành nghề: từ 01 tháng đến 24 tháng. Nếu Hội đồng chuyên môn xác định sai sót đến mức phải thu hồi thì giấy phép hành nghề bị thu hồi, không có một “thời hạn tước” cố định như 3, 6 hay 24 tháng.

  1. Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định thế nào?

Đây là điểm cần cập nhật vì không nên dùng Nghị định 117/2020/NĐ-CP làm văn bản xử phạt chính cho tình huống năm 2026.

Theo Điều 40 Nghị định 90/2026/NĐ-CP, hành vi vi phạm quy định chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh mà được Hội đồng chuyên môn xác định có sai sót chuyên môn kỹ thuật đến mức phải thu hồi giấy phép hành nghề thì:

  • Phạt tiền 40–50 triệu đồng; 
  • Buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định đối với trường hợp thuộc khoản 7. 

Đáng chú ý, khoản 8 Điều 40 quy định hình thức tước giấy phép/chứng chỉ hành nghề 03–06 tháng đối với hành vi tại khoản 5, tức các hành vi liên quan đến việc thực hiện phẫu thuật, thủ thuật, can thiệp xâm nhập mà không có sự đồng ý bằng văn bản trong trường hợp thuộc quy định.

Do đó, không được lấy mức 03–06 tháng để áp dụng máy móc cho hành vi mổ nhầm chân. 

  1. Hội đồng chuyên môn có vai trò gì?

Theo Điều 101 Luật Khám bệnh, chữa bệnh, khi xảy ra tai biến y khoa có tranh chấp cần giải quyết, theo đề nghị của người bệnh, người đại diện hoặc người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải thành lập Hội đồng chuyên môn để xác định người hành nghề có hay không có sai sót chuyên môn kỹ thuật. Hội đồng phải bảo đảm tính khách quan và không có xung đột lợi ích.  Kết luận của Hội đồng chuyên môn có ý nghĩa đặc biệt vì là căn cứ để giải quyết tranh chấp và để cơ quan có thẩm quyền, người đứng đầu cơ sở quyết định biện pháp xử lý đối với người hành nghề. 

Trong tình huống này cần xác minh:

  1. Hồ sơ bệnh án ghi chân nào cần phẫu thuật? 
  2. Chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật là chân nào? 
  3. Bác sĩ đã kiểm tra hồ sơ trước mổ hay chưa? 
  4. Có đánh dấu vị trí phẫu thuật hay không? 
  5. Có thực hiện bước xác nhận người bệnh – vị trí phẫu thuật – phương pháp phẫu thuật hay không? 
  6. Kíp phẫu thuật có thực hiện quy trình kiểm tra trước khi rạch dao hay không? 
  7. Ai là người có trách nhiệm xác nhận vị trí phẫu thuật? 
  8. Sai sót xuất phát từ cá nhân bác sĩ hay còn có lỗi của ê-kíp/cơ sở? 
  9. Mức độ tổn thương thực tế của người bệnh? 
  10. Có cần phẫu thuật lại và có phát sinh di chứng hay không? 
  1. Trách nhiệm bồi thường cho người bệnh

Theo Điều 102 Luật Khám bệnh, chữa bệnh, khi xảy ra tai biến y khoa, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm bồi thường cho người bệnh theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp thuộc khoản 2 Điều 100. 

Ngoài ra, nếu bác sĩ là người của bệnh viện và gây thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao thì có thể đặt vấn đề trách nhiệm của pháp nhân theo Điều 597 Bộ luật Dân sự 2015. 

Thiệt hại về sức khỏe có thể bao gồm chi phí cứu chữa, phục hồi, thu nhập bị mất hoặc giảm sút, chi phí của người chăm sóc và các khoản thiệt hại khác theo Điều 590 BLDS. 

  1. Điều khoản hợp đồng cần xem xét

Quan hệ giữa người bệnh và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thể được xem xét dưới góc độ hợp đồng dịch vụ y tế.

Khi tư vấn, cần kiểm tra:

  • Phiếu đăng ký/tiếp nhận khám chữa bệnh; 
  • Hợp đồng dịch vụ y tế nếu có; 
  • Phiếu đồng ý phẫu thuật; 
  • Phiếu cam kết trước phẫu thuật; 
  • Điều khoản về phạm vi dịch vụ; 
  • Điều khoản về trách nhiệm khi xảy ra sự cố; 
  • Điều khoản về bồi thường; 
  • Điều khoản về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. 

Về trách nhiệm dân sự, Điều 419 BLDS 2015 cho phép yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; còn Điều 418 quy định về thỏa thuận phạt vi phạm. 

  1. Có thể phát sinh trách nhiệm hình sự không?

Có thể, nhưng không phải cứ mổ nhầm là đương nhiên bị truy cứu hình sự. Nếu hành vi vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh gây hậu quả đạt ngưỡng luật định, có thể xem xét Điều 315 Bộ luật Hình sự về tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác.

Theo quy định hiện hành, tùy hậu quả như chết người, tỷ lệ tổn thương cơ thể hoặc thiệt hại tài sản, khung hình phạt có thể từ 01–05 năm, 03–10 năm hoặc 07–15 năm tù; ngoài ra còn có thể bị cấm hành nghề từ 01–05 năm. 

III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ – “CHÌA KHÓA NHÂN VĂN”

  1. Tâm lý người bệnh

Mổ nhầm chân là sự cố đặc biệt nghiêm trọng về niềm tin.

Người bệnh không chỉ chịu tổn thương về thể chất mà còn có thể:

  • hoang mang; 
  • phẫn nộ; 
  • mất niềm tin vào bác sĩ; 
  • lo sợ tiếp tục điều trị; 
  • cảm thấy mình bị đối xử như “một hồ sơ” thay vì một con người. 

Vì vậy, bệnh viện không nên chỉ tập trung vào câu hỏi: “Ai là người có lỗi?”mà phải đồng thời giải quyết “Người bệnh đang chịu hậu quả gì và chúng ta phải khắc phục thế nào?”

  1. Không nên chỉ xử lý bằng cách “tìm người để kỷ luật”

Vụ việc có thể bắt đầu từ lỗi của bác sĩ, nhưng cần kiểm tra toàn bộ hệ thống: Hồ sơ → chẩn đoán → chỉ định → đánh dấu vị trí → bàn giao → xác nhận trước mổ → ê-kíp phẫu thuật → rạch dao. Nếu nhiều lớp kiểm soát đều thất bại thì đây không còn đơn thuần là câu chuyện về một cá nhân mà còn là vấn đề quản trị an toàn người bệnh.

  1. Quy trình xử lý nội bộ bệnh viện nên gồm

Bước 1: Cứu chữa và khắc phục ngay hậu quả

Ưu tiên sức khỏe người bệnh:

  • đánh giá tổn thương; 
  • xử lý chân bị mổ nhầm; 
  • tổ chức điều trị cần thiết; 
  • lập hồ sơ đầy đủ. 

Bước 2: Bảo toàn chứng cứ

Không được tự ý sửa chữa, tẩy xóa hồ sơ.

Cần bảo toàn:

  • bệnh án; 
  • phiếu chỉ định; 
  • phiếu đồng ý phẫu thuật; 
  • hình ảnh chẩn đoán; 
  • biên bản phẫu thuật; 
  • nhật ký phòng mổ; 
  • phân công ê-kíp; 
  • dữ liệu liên quan. 

Bước 3: Báo cáo sự cố

Thực hiện quy trình báo cáo sự cố y khoa của cơ sở.

Bước 4: Thành lập Hội đồng chuyên môn khi có tranh chấp

Hội đồng phải khách quan, chuyên môn phù hợp và không xung đột lợi ích. 

Bước 5: Xác định mức độ sai sót

Có thể dẫn tới:

Không có sai sót → sai sót → đình chỉ → thu hồi giấy phép, tùy kết luận và mức độ.

Bước 6: Xử lý trách nhiệm nội bộ

Bệnh viện có thể xem xét trách nhiệm của:

  • bác sĩ phẫu thuật; 
  • bác sĩ chỉ định; 
  • điều dưỡng; 
  • ê-kíp phòng mổ; 
  • người phụ trách; 
  • bộ phận kiểm soát chất lượng; 
  • người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở, 

nếu có căn cứ cho thấy từng cá nhân/bộ phận có vi phạm.

IV. GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CỦA CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG

  1. Đối với bác sĩ

Không chỉ xử lý kỷ luật mà phải:

  • xác định nguyên nhân trực tiếp; 
  • xác định nguyên nhân hệ thống; 
  • yêu cầu cập nhật kiến thức nếu cần; 
  • tăng cường đào tạo về an toàn phẫu thuật; 
  • kiểm soát việc tuân thủ quy trình trước mổ. 
  1. Đối với bệnh viện

Thiết lập cơ chế “3 lớp kiểm tra” trước khi rạch dao:

Lớp 1 – Hồ sơ: Đúng người – đúng bệnh – đúng chỉ định.

Lớp 2 – Người bệnh: Xác nhận trực tiếp với người bệnh hoặc người đại diện.

Lớp 3 – Vị trí phẫu thuật: Đối chiếu và xác nhận vị trí trước khi bắt đầu phẫu thuật.

Nguyên tắc: Không chắc chắn → không rạch dao.

  1. Đối với người bệnh

Người bệnh cần được:

  • thông báo trung thực về sự cố; 
  • giải thích phương án khắc phục; 
  • cung cấp hồ sơ theo quyền của mình; 
  • hỗ trợ điều trị và phục hồi; 
  • giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định. 

Theo Điều 102 Luật Khám bệnh, chữa bệnh, trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tai biến y khoa thuộc về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định pháp luật. 

  1. Thông điệp quản trị

Một hệ thống y tế an toàn không thể dựa vào câu: “Bác sĩ phải cẩn thận hơn.”

Mà phải xây dựng hệ thống trong đó: Ngay cả khi một người mắc sai sót, những lớp kiểm soát tiếp theo vẫn phải đủ khả năng ngăn sai sót gây tổn hại cho người bệnh.

KẾT LUẬN PHÁP LÝ

Mổ nhầm chân do không đối chiếu hồ sơ bệnh án là tình huống có dấu hiệu rõ ràng của sai sót chuyên môn kỹ thuật và cần được đánh giá theo cơ chế Hội đồng chuyên môn.

GÓC NHÌN CHUYÊN GIA:

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc về pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi cho chuyên gia tại: https://tuvanphapluattamlygiaoduc.vn/gui-cau-hoi-den-chuyen-gia/ hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Để lại một bình luận