TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP TỰ Ý HỦY KHÓA HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ ANH CHẤT LƯỢNG CAO GIỮA CHỪNG VÀ ÉP SINH VIÊN CHUYỂN SANG HỆ ĐẠI TRÀ NHƯNG GIỮ NGUYÊN HỌC PHÍ CAO?
Khi lựa chọn một chương trình đào tạo chất lượng cao, sinh viên và gia đình không chỉ lựa chọn một ngành học mà còn đặt vào đó tiền bạc, thời gian, công sức và kỳ vọng nghề nghiệp. Vì vậy, nếu một trường đại học dân lập tự ý dừng chương trình giữa chừng, buộc sinh viên chuyển sang hệ đại trà nhưng vẫn giữ nguyên mức học phí của chương trình chất lượng cao, vấn đề cần được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ quản lý giáo dục mà còn dưới góc độ hợp đồng, tài chính và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Đằng sau một quyết định thay đổi chương trình có thể là cả một “cuộc khủng hoảng dòng tiền học đường”: tiền tiết kiệm của cha mẹ, tiền vay ngân hàng, khoản học phí đã đóng trước, chi phí sinh hoạt và nguy cơ sinh viên phải tiếp tục bỏ thêm tiền cho một chương trình không còn giống với chương trình ban đầu.
Hãy cùng chuyên gia ThS. Nguyễn Hữu Long phân tích tình huống giả định dưới đây để làm rõ quyền của sinh viên, trách nhiệm của cơ sở đào tạo và quy trình từ việc thành lập Ban đại diện sinh viên đến yêu cầu hoàn phí, bồi thường và khởi kiện khi cần thiết.
I. TÓM TẮT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ – “KHỦNG HOẢNG DÒNG TIỀN HỌC ĐƯỜNG”
Năm 2024, em Nguyễn Minh A, quê tại xã B, tỉnh C, trúng tuyển vào một trường đại học dân lập X tại thành phố D, ngành Ngôn ngữ Anh – chương trình chất lượng cao.
Trước khi nhập học, Minh Anh được tư vấn rằng chương trình chất lượng cao có mức học phí khoảng 45 triệu đồng/năm, cao hơn đáng kể so với chương trình đại trà khoảng 25 triệu đồng/năm. Đổi lại, chương trình được giới thiệu có những ưu điểm như:
- Lớp học quy mô nhỏ;
- Tăng cường thời lượng đào tạo tiếng Anh;
- Một số học phần được giảng dạy bằng tiếng Anh;
- Tăng cường thực hành giao tiếp;
- Có hoạt động ngoại khóa và hỗ trợ học tập;
- Định hướng nâng cao năng lực ngoại ngữ phục vụ việc làm sau khi tốt nghiệp.
Tin tưởng vào những thông tin được nhà trường cung cấp, gia đình Minh Anh đã vay mượn tiền để đóng học phí. Trong hai năm đầu, sinh viên vẫn học theo chương trình chất lượng cao và thực hiện nghĩa vụ học phí theo thông báo của trường.
Tuy nhiên, đầu năm 2026, nhà trường bất ngờ thông báo:
“Do số lượng sinh viên giảm và chi phí tổ chức chương trình tăng cao, trường quyết định dừng đào tạo chương trình Ngôn ngữ Anh chất lượng cao đối với khóa hiện tại. Sinh viên sẽ được chuyển sang chương trình Ngôn ngữ Anh đại trà.”
Điều đáng chú ý là nhà trường yêu cầu sinh viên tiếp tục học theo chương trình đại trà nhưng không hoàn lại phần học phí chênh lệch đã đóng và vẫn áp dụng mức thu cũ đối với các khoản đã cam kết trước đó. Minh Anh và nhiều sinh viên khác phản đối. Một sinh viên cho biết:
“Gia đình tôi phải vay tiền để đóng học phí chất lượng cao. Nếu biết cuối cùng chỉ học chương trình đại trà thì ngay từ đầu tôi đã không chọn trường này.”
Một sinh viên khác cho rằng:
“Chúng tôi không phản đối việc trường gặp khó khăn. Nhưng nếu dịch vụ đào tạo đã thay đổi thì tại sao học phí vẫn giữ nguyên?”
Theo thống kê ban đầu của nhóm sinh viên, một sinh viên đã đóng khoảng 90 triệu đồng trong hai năm, trong khi nếu tính theo mức học phí đại trà thì chỉ khoảng 50 triệu đồng. Như vậy, vấn đề không còn là một khoản tiền nhỏ. Nếu có 100 sinh viên cùng rơi vào tình trạng tương tự, tổng phần chênh lệch có thể lên tới hàng tỷ đồng.
Đây chính là điểm bắt đầu của một cuộc khủng hoảng dòng tiền tài chính học đường. Sinh viên không chỉ mất quyền lựa chọn chương trình mà còn có nguy cơ mất tiền – mất thời gian – kéo dài thời gian học – phát sinh chi phí – ảnh hưởng kế hoạch nghề nghiệp.
Từ đó, một nhóm sinh viên đề nghị thành lập Ban đại diện sinh viên để tập hợp chứng cứ, làm việc với nhà trường, yêu cầu hoàn phí và bồi thường nếu có căn cứ. Nếu thương lượng không thành, nhóm sinh viên đặt vấn đề: Có thể cùng nhau khởi kiện hay không?
II. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – “LÁ CHẮN VỮNG CHẮC”
- Tự chủ đại học không đồng nghĩa với quyền tùy ý thay đổi cam kết
Theo Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026), các cơ sở giáo dục đại học có quyền tự chủ trong tổ chức và hoạt động. Cụ thể:
- Điều 32 Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 quy định cơ sở giáo dục đại học được tự chủ trong việc phát triển chương trình đào tạo, tuyển sinh và quản lý đào tạo.
- Tuy nhiên, Khoản 3 Điều 32 cũng quy định rõ quyền tự chủ phải đi liền với trách nhiệm giải trình trước xã hội, người học và cơ quan quản lý nhà nước về việc thực hiện chất lượng đào tạo và các cam kết đối với người học.
Tự chủ không đồng nghĩa với miễn trừ trách nhiệm. Một trường đại học có thể điều chỉnh hoạt động để bảo đảm hiệu quả quản trị, nhưng khi quyết định đó tác động trực tiếp đến quyền lợi của sinh viên đang thực hiện chương trình đào tạo thì phải tuân thủ đúng quy định pháp luật, quy chế đào tạo, hợp đồng đào tạo và các thông tin công khai trong đề án tuyển sinh.
Đặc biệt, việc nhà trường đơn phương dừng chương trình đào tạo giữa chừng khi sinh viên đang theo học là vi phạm nghĩa vụ bảo đảm hoàn thành khóa học cho sinh viên theo quy định tại Điều 65 Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 về trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học đối với người học.
- Học phí phải được nhìn cùng với dịch vụ đào tạo thực tế
Mối quan hệ giữa học phí và dịch vụ đào tạo được điều chỉnh cụ thể bởi Nghị định 238/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 03/09/2025) quy định về chính sách học phí và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo:
- Điều 8 Nghị định 238/2025/NĐ-CP quy định rõ: Mức thu học phí và giá dịch vụ giáo dục phải tương xứng với chất lượng dịch vụ đào tạo được cung cấp và phải được công khai, minh bạch trước khi tuyển sinh.
- Điều 12 Nghị định 238/2025/NĐ-CP yêu cầu cơ sở giáo dục khi không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ các dịch vụ đào tạo như đã cam kết thì phải thực hiện việc hoàn trả hoặc điều chỉnh lại mức thu tương ứng với dịch vụ thực tế cung cấp cho người học.
Trong tình huống này, nhà trường đã thu học phí theo mức của chương trình chất lượng cao (45 triệu/năm) nhưng lại cung cấp dịch vụ của chương trình đại trà (tương ứng 25 triệu/năm). Sự chênh lệch 20 triệu/năm/sinh viên không tương ứng với dịch vụ đào tạo thực tế thu được. Do đó, căn cứ vào Điều 12 Nghị định 238/2025/NĐ-CP, sinh viên hoàn toàn có cơ sở pháp lý để yêu cầu nhà trường hoàn trả hoặc khấu trừ phần chênh lệch học phí đã thu bất hợp lý này.
- Vi phạm hợp đồng đào tạo phải được chứng minh bằng “cam kết – thực hiện – thiệt hại”
Quan hệ giữa nhà trường và sinh viên khi nhập học hình thành nên một Hợp đồng dịch vụ đào tạo theo quy định của Bộ luật Dân sự:
- Điều 513 Bộ luật Dân sự 2015: Quy định về Hợp đồng dịch vụ, theo đó bên cung ứng dịch vụ (nhà trường) thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ (sinh viên), và bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ.
- Điều 517 Bộ luật Dân sự 2015: Quy định về Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ, trong đó nhà trường phải cung cấp dịch vụ đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thỏa thuận khác đã cam kết.
- Điều 520 Bộ luật Dân sự 2015: Quy định về Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ. Việc nhà trường tự ý dừng chương trình chất lượng cao mà không được sự đồng ý của sinh viên là hành vi đơn phương thay đổi/chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.
Để chứng minh vi phạm hợp đồng, sinh viên cần hoàn thiện hồ sơ pháp lý theo 3 lớp căn cứ:
- Lớp 1 – Cam kết của nhà trường: Đề án tuyển sinh, Giấy báo nhập học, Thông báo thu học phí, Chương trình đào tạo chi tiết, Brochure/Website quảng cáo (Căn cứ Điều 385, Điều 401 Bộ luật Dân sự 2015 về giao kết hợp đồng và hiệu lực hợp đồng).
- Lớp 2 – Thực tế thực hiện: Thông báo dừng chương trình chất lượng cao, Quyết định chuyển sinh viên sang hệ đại trà của nhà trường (Căn cứ chứng minh hành vi vi phạm nghĩa vụ theo Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015).
- Lớp 3 – Thiệt hại phát sinh: Khoản tiền học phí chênh lệch (40 triệu đồng/2 năm), chi phí mua giáo trình mới, chi phí học kéo dài thời gian, chi phí cơ hội công việc (Căn cứ quy định về Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ tại Điều 360, Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015).
- Khi nào có thể đặt vấn đề “lừa dối khách hàng” hoặc vi phạm pháp luật người tiêu dùng?
Cần phân biệt rõ giữa vi phạm hợp đồng dân sự và hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc hành vi lừa dối:
- Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 19/2023/QH15 (có hiệu lực từ 01/07/2024, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 47/VBHN-VPQH ngày 17/03/2026):
- Khoản 1 Điều 10: Nghiêm cấm tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, gây nhầm lẫn về sản phẩm, dịch vụ, giá cả, chất lượng cung cấp.
- Khoản 3 Điều 25: Quy định về các điều khoản không có hiệu lực trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, bao gồm điều khoản cho phép bên cung cấp dịch vụ đơn phương thay đổi các điều kiện của hợp đồng đã thỏa thuận mà không có lý do chính đáng được pháp luật quy định.
- Nếu nhà trường biết rõ không đủ nguồn lực duy trì chương trình chất lượng cao nhưng vẫn quảng bá, tuyển sinh và thu học phí cao rồi bỏ dở giữa chừng, sinh viên có quyền khiếu nại nhà trường lên Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Bộ Công Thương) hoặc Sở Công Thương về hành vi vi phạm quy định tại Điều 10 và Điều 25 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 19/2023/QH15.
- Việc quy kết trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017) chỉ đặt ra khi cơ quan công an điều tra chứng minh được nhà trường có thủ đoạn gian dối ngay từ đầu nhằm chiếm đoạt tiền học phí mà không có ý định đào tạo.
- Điều khoản “đã đóng học phí thì không hoàn lại” có phải lúc nào cũng tuyệt đối?
Nhà trường thường viện dẫn quy chế nội bộ hoặc điều khoản trên phiếu thu: “Học phí đã đóng không hoàn lại trong bất kỳ trường hợp nào”. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, điều khoản này hoàn toàn bị vô hiệu:
- Điều 401 Bộ luật Dân sự 2015: Hợp đồng hoặc điều khoản hợp đồng có nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì bị vô hiệu.
- Điều 25 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 19/2023/QH15 (VBHN số 47/VBHN-VPQH) quy định rõ: Điều khoản hợp đồng hạn chế, loại bỏ quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng hoặc cho phép bên bán hàng/cung cấp dịch vụ thu tiền mà không thực hiện nghĩa vụ là điều khoản đương nhiên vô hiệu.
Do đó, điều khoản “không hoàn lại học phí” mà nhà trường áp đặt không có giá trị pháp lý khi bản thân nhà trường là bên vi phạm cam kết dịch vụ đào tạo.
III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ – “CHÌA KHÓA NHÂN VĂN”
- Khủng hoảng dòng tiền học đường – phía sau học phí là một gia đình
Một khoản học phí 40–50 triệu đồng/năm có thể không lớn đối với một doanh nghiệp. Nhưng đối với một gia đình có thu nhập trung bình hoặc thấp, đó có thể là:
- tiền tiết kiệm nhiều năm;
- khoản vay ngân hàng;
- tiền cha mẹ đi làm dành dụm;
- hoặc khoản nợ phải trả trong nhiều năm.
Vì vậy, khi trường thay đổi chương trình giữa chừng, tác động không chỉ nằm ở lớp học. Nó tác động đến dòng tiền của cả gia đình sinh viên. Một sinh viên có thể phải tiếp tục đóng tiền, thuê trọ, mua giáo trình, đi lại và chịu các chi phí khác trong khi giá trị dịch vụ đào tạo đã thay đổi.
Đó là lý do cần nhìn nhận học phí dưới góc độ: “Tài sản giáo dục của sinh viên.”
- Lòng tham vật chất – khi lợi ích tài chính lấn át trách nhiệm giáo dục
Một chương trình đào tạo có thể không còn hiệu quả. Một trường đại học có thể phải cắt giảm chi phí. Nhưng nếu giải pháp là: “Cắt chương trình chất lượng cao nhưng vẫn giữ mức thu cao” thì câu chuyện trở nên đáng lo ngại.
Bởi giáo dục không chỉ là cung cấp một dịch vụ để thu tiền. Nhà trường còn có trách nhiệm bảo đảm niềm tin của người học. Lòng tham vật chất, nếu xuất hiện trong quản trị giáo dục, có thể khiến một quyết định tài chính ngắn hạn tạo ra hậu quả dài hạn: mất niềm tin → mất uy tín → tranh chấp → khiếu kiện → tổn hại thương hiệu.
Đôi khi số tiền nhà trường cố giữ lại hôm nay không lớn bằng chi phí danh tiếng phải trả trong nhiều năm sau.
- Quản trị rủi ro tài sản cá nhân – sinh viên phải tự bảo vệ mình
Bài học lớn nhất đối với sinh viên là: Đừng chỉ quan tâm “học ngành gì”, hãy quan tâm “mình đã cam kết tài chính với ai và bằng văn bản nào”.
Trước khi đóng học phí lớn, sinh viên nên lưu giữ:
Hợp đồng đào tạo → Đề án tuyển sinh → Thông báo học phí → Chương trình đào tạo → Thông tin quảng cáo → Tin nhắn tư vấn → Email → Hóa đơn, chứng từ thanh toán → Quy chế đào tạo → Các thông báo thay đổi chương trình.
Đó chính là “hồ sơ tài sản pháp lý” của sinh viên.
- Hòa giải trong môi trường đại học – không phải là đầu hàng
Sinh viên có quyền bảo vệ quyền lợi. Nhà trường có quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Nhưng hai bên không nhất thiết phải trở thành đối thủ.
Hòa giải ở đây không phải là: “Sinh viên chấp nhận mất tiền để đổi lấy yên ổn.” Mà là: “Hai bên cùng xác định thiệt hại và tìm phương án phân bổ hợp lý.”
Một cuộc đối thoại có thể đưa đến những phương án:
- Duy trì chương trình cho khóa hiện tại;
- Chuyển sang hệ đại trà trên cơ sở tự nguyện;
- Điều chỉnh học phí;
- Hoàn phần chênh lệch;
- Miễn một số học phần;
- Hỗ trợ chi phí chuyển đổi;
- Công nhận tín chỉ đã tích lũy;
- Không để sinh viên phải học lại những nội dung đã hoàn thành.
Đây mới là hòa giải có trách nhiệm.
IV. GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CỦA CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG
Theo Chuyên gia ThS. Nguyễn Hữu Long, nếu nhiều sinh viên cùng rơi vào tình trạng tương tự, không nên hành động tự phát mà cần xây dựng một quy trình có tổ chức.
BƯỚC 1 – THÀNH LẬP BAN ĐẠI DIỆN SINH VIÊN
Sinh viên có thể tổ chức một nhóm/ban đại diện trên cơ sở tự nguyện. Ban đại diện nên có:
- Trưởng ban: Làm đầu mối liên hệ và điều phối.
- Tổ pháp lý: Nghiên cứu hợp đồng, quy định pháp luật, xây dựng yêu cầu.
- Tổ tài chính: Tính toán: đã đóng bao nhiêu → đáng lẽ phải đóng bao nhiêu → chênh lệch bao nhiêu → thiệt hại bao nhiêu.
- Tổ chứng cứ: Lưu giữ: Hợp đồng; Hóa đơn; Chứng từ; Quảng cáo; Email; Tin nhắn; Thông báo của trường; Chương trình đào tạo.
- Tổ đối thoại: Làm việc với nhà trường.
Lưu ý quan trọng: Ban đại diện không mặc nhiên trở thành nguyên đơn thay cho tất cả sinh viên. Nếu từng sinh viên có hợp đồng riêng thì phải xác định rõ ai là người có quyền khởi kiện và ai được ủy quyền đại diện.
BƯỚC 2 – LẬP “BẢNG DÒNG TIỀN HỌC ĐƯỜNG”
Đây là điểm cần đặc biệt chú trọng. Mỗi sinh viên lập một bảng:
| Nội dung | Số tiền |
| Học phí chất lượng cao đã đóng | 90 triệu |
| Học phí đại trà tương ứng | 50 triệu |
| Chênh lệch | 40 triệu |
| Chi phí phát sinh | … |
| Thiệt hại chứng minh được | … |
| Tổng yêu cầu | … |
Không nên ghi: “Nhà trường phải đền bù thật nhiều.”
Mà phải ghi: “Sinh viên yêu cầu hoàn trả X đồng vì căn cứ A, B, C.”
Một yêu cầu được lượng hóa sẽ có giá trị thuyết phục hơn nhiều.
BƯỚC 3 – GỬI VĂN BẢN YÊU CẦU NHÀ TRƯỜNG GIẢI TRÌNH
Ban đại diện nên yêu cầu nhà trường trả lời bằng văn bản ít nhất 6 vấn đề:
- Căn cứ pháp lý nào để dừng chương trình?
- Quyết định do cơ quan nào của trường ban hành?
- Sinh viên đã ký hợp đồng hoặc xác lập quan hệ đào tạo với những cam kết nào?
- Vì sao chương trình thay đổi nhưng mức học phí vẫn giữ nguyên?
- Phần học phí chênh lệch được xử lý như thế nào?
- Phương án bảo đảm quyền lợi của sinh viên là gì?
Đồng thời, sinh viên yêu cầu nhà trường cung cấp các tài liệu liên quan đến quyết định dừng chương trình trong phạm vi pháp luật cho phép.
BƯỚC 4 – ĐỀ XUẤT 3 PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT
Ban đại diện không nên chỉ đưa ra một yêu cầu “hoàn toàn bộ tiền”. Có thể đề xuất:
- PHƯƠNG ÁN 1 – TIẾP TỤC ĐÀO TẠO: Nhà trường duy trì chương trình chất lượng cao cho đến khi khóa sinh viên hoàn thành chương trình.
- PHƯƠNG ÁN 2 – CHUYỂN SANG ĐẠI TRÀ TỰ NGUYỆN: Sinh viên đồng ý chuyển sang hệ đại trà. Khi đó: Học phí được điều chỉnh theo chương trình thực tế. Phần chênh lệch đã thu nhưng chưa tương ứng với dịch vụ được cung cấp được xem xét hoàn trả hoặc khấu trừ.
- PHƯƠNG ÁN 3 – CHẤM DỨT VÀ HOÀN TRẢ: Nếu nhà trường không thể bảo đảm chương trình như cam kết và sinh viên không muốn chuyển đổi, hai bên giải quyết việc chấm dứt quan hệ đào tạo theo căn cứ pháp luật và hợp đồng, đồng thời xác định khoản tiền phải hoàn trả và thiệt hại nếu có.
BƯỚC 5 – HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI TRƯỚC KHI KHỞI KIỆN
Đây là bước nên ưu tiên. Ban đại diện có thể đề nghị nhà trường tổ chức một buổi đối thoại chính thức.
Cuộc họp cần có: Đại diện nhà trường; Phòng đào tạo; Phòng tài chính; Khoa chuyên môn; Bộ phận pháp chế nếu có; Đại diện sinh viên.
Nội dung cuộc họp cần được lập biên bản. Mọi cam kết về hoàn phí, miễn giảm, chuyển đổi chương trình hoặc bồi thường cần được thể hiện bằng văn bản. Không nên chỉ tin vào lời hứa “sẽ giải quyết sau”.
BƯỚC 6 – NẾU KHÔNG THÀNH: CHUẨN BỊ HỒ SƠ KHỞI KIỆN
Nếu thương lượng không thành, từng sinh viên cần xác định yêu cầu pháp lý của mình. Hồ sơ có thể gồm:
- Đơn khởi kiện.
- Hợp đồng đào tạo.
- Chứng từ đóng học phí.
- Đề án tuyển sinh.
- Tài liệu quảng bá chương trình.
- Chương trình đào tạo.
- Thông báo dừng chương trình.
- Văn bản trao đổi với nhà trường.
- Biên bản đối thoại.
- Bảng tính thiệt hại.
- Các chứng cứ khác.
Theo pháp luật tố tụng dân sự, người khởi kiện phải xác định yêu cầu cụ thể và cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình có căn cứ.
BƯỚC 7 – XÁC ĐỊNH ĐÚNG TƯ CÁCH NGUYÊN ĐƠN
Đây là vấn đề nhiều nhóm sinh viên có thể mắc sai lầm. Không nên lập một đơn rồi để: “Ban đại diện sinh viên khóa K là nguyên đơn” nếu Ban đại diện không có tư cách pháp nhân và không phải chủ thể của các hợp đồng đào tạo.
Cách an toàn hơn là: Từng sinh viên là người có quyền lợi bị ảnh hưởng và xác định tư cách tố tụng theo trường hợp cụ thể.
Nếu một sinh viên ủy quyền cho người khác thực hiện một số công việc thì phải có văn bản ủy quyền hợp lệ và phạm vi ủy quyền rõ ràng. Ban đại diện đóng vai trò: tập hợp – điều phối – hỗ trợ – đại diện theo ủy quyền trong phạm vi được phép.
BƯỚC 8 – XÁC ĐỊNH CÁC YÊU CẦU ĐÒI HOÀN PHÍ, BỒI THƯỜNG
Tùy hồ sơ từng người, có thể xem xét các nhóm yêu cầu:
- Yêu cầu 1: Hoàn trả phần học phí chênh lệch.
- Ví dụ: Đã đóng chương trình chất lượng cao: 90 triệu đồng. Chi phí tương ứng chương trình đại trà: 50 triệu đồng. Phần chênh lệch cần được xem xét trên cơ sở dịch vụ thực tế và căn cứ pháp luật.
- Yêu cầu 2: Hoàn trả khoản tiền cho dịch vụ chưa được cung cấp. Nếu đã thu tiền cho một dịch vụ nhưng dịch vụ đó không được cung cấp như thỏa thuận.
- Yêu cầu 3: Bồi thường thiệt hại. Chỉ đặt ra khi có căn cứ chứng minh: hành vi vi phạm thiệt hại thực tế quan hệ nhân quả căn cứ phát sinh trách nhiệm.
- Yêu cầu 4: Giải quyết chi phí phát sinh. Ví dụ chi phí hợp lý phát sinh do việc chuyển đổi chương trình, nếu có căn cứ chứng minh.
- Yêu cầu 5: Thực hiện đúng cam kết đào tạo. Nếu sinh viên vẫn muốn tiếp tục chương trình ban đầu và pháp luật, điều kiện thực tế cho phép.
LỜI KẾT CỦA CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG
Trong một tranh chấp giáo dục, điều đáng sợ nhất không phải là việc hai bên bất đồng. Điều đáng sợ hơn là một bên có tiền, một bên có quyền quyết định, còn sinh viên – người đã bỏ tiền và đặt tương lai vào chương trình – lại không biết phải bảo vệ mình bằng cách nào.
Khủng hoảng dòng tiền học đường vì thế không chỉ là câu chuyện: “Đã đóng bao nhiêu tiền?” mà là: “Khoản tiền đó được đóng để đổi lấy dịch vụ đào tạo nào, nhà trường đã thực hiện đến đâu và phần nghĩa vụ còn lại phải được xử lý thế nào?”
Sinh viên cần nhớ:
- HỢP ĐỒNG là căn cứ.
- CHỨNG TỪ là bằng chứng.
- BẢNG TÍNH THIỆT HẠI là cơ sở lượng hóa yêu cầu.
- BAN ĐẠI DIỆN là cơ chế phối hợp.
- ĐỐI THOẠI là phương án ưu tiên.
- KHỞI KIỆN là giải pháp cuối cùng khi quyền lợi hợp pháp không được bảo đảm.
Đặc biệt, không nên vội vàng sử dụng từ “lừa đảo” khi chưa có đủ căn cứ. Cần phân biệt rõ giữa vi phạm hợp đồng đào tạo, cung cấp thông tin sai lệch/gây nhầm lẫn, vi phạm pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng và trách nhiệm hình sự.
Một trường đại học có thể thay đổi chiến lược đào tạo để tồn tại. Nhưng không nên để chiến lược tài chính của nhà trường trở thành khoản nợ tài chính của sinh viên.
Và một sinh viên cũng không nên đơn độc trước một tranh chấp lớn. Khi quyền lợi của nhiều người cùng bị ảnh hưởng, điều cần thiết là:
TỪNG SINH VIÊN CÓ HỒ SƠ RIÊNG – CẢ NHÓM CÓ CHỨNG CỨ CHUNG – BAN ĐẠI DIỆN CÓ TỔ CHỨC – YÊU CẦU CÓ SỐ LIỆU – ĐỐI THOẠI CÓ BIÊN BẢN – VÀ KHỞI KIỆN CÓ CĂN CỨ.
Đó không chỉ là cách đòi lại một khoản học phí. Đó còn là cách để sinh viên học bài học đầu tiên về quản trị tài sản cá nhân, trách nhiệm hợp đồng và văn hóa pháp quyền ngay trong chính môi trường đại học
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

