TÌNH HUỐNG 599: SỬ DỤNG NHÃN HIỆU ĐÃ ĐƯỢC ĐỐI THỦ BẢO HỘ?

12 / 100 Điểm SEO

 

Trong hoạt động kinh doanh, nhãn hiệu là một trong những tài sản quan trọng giúp doanh nghiệp tạo dựng uy tín, phân biệt hàng hóa, dịch vụ và duy trì vị trí trên thị trường

Tuy nhiên, trên thực tế có không ít doanh nghiệp sử dụng một dấu hiệu, tên gọi hoặc logo tương tự với nhãn hiệu mà đối thủ đã đăng ký bảo hộ

Có doanh nghiệp cho rằng chỉ cần mình đăng ký tên doanh nghiệp trước, sử dụng dấu hiệu trước hoặc kinh doanh khác một chút thì có thể tiếp tục sử dụng

Nhưng nếu dấu hiệu được sử dụng trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đã được bảo hộ và được sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ thì doanh nghiệp hoàn toàn có thể bị yêu cầu chấm dứt việc sử dụng, xử lý hành chính hoặc thậm chí phải bồi thường thiệt hại

Vậy doanh nghiệp sử dụng nhãn hiệu đã được đối thủ bảo hộ trong trường hợp nào bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và trường hợp nào vẫn có thể được pháp luật cho phép?

Hãy cùng chuyên gia ThS. Nguyễn Hữu Long phân tích tình huống thực tế dưới đây để tìm ra giải pháp vẹn toàn cả về lý lẫn tình

  1. Tóm tắt tình huống thực tế

Công ty A kinh doanh mỹ phẩm và sử dụng nhãn hiệu “LUNA BEAUTY” để quảng bá, giới thiệu và bán sản phẩm trên thị trường

Năm 2025, Công ty B đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với dấu hiệu “LUNA BEAUTY” cho nhóm hàng hóa mỹ phẩm

Đến năm 2026, Công ty A bắt đầu sử dụng dấu hiệu “LUNA BEAUTY” trên bao bì sản phẩm, website, mạng xã hội, biển hiệu cửa hàng và các tài liệu quảng cáo

Công ty B phát hiện việc này và gửi văn bản yêu cầu Công ty A chấm dứt sử dụng nhãn hiệu

Công ty A cho rằng mình không sao chép logo của Công ty B hoàn toàn mà chỉ sử dụng cùng tên “LUNA BEAUTY”, đồng thời cho rằng khách hàng có thể phân biệt được hai doanh nghiệp

Công ty A cũng cho rằng mình đã sử dụng tên này từ trước khi biết Công ty B được cấp văn bằng bảo hộ nên không thể bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Công ty B không đồng ý và cho rằng Công ty A đang sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu đã được bảo hộ cho chính nhóm hàng hóa mỹ phẩm mà Công ty B đã đăng ký

Vấn đề đặt ra là: Công ty A có được tiếp tục sử dụng nhãn hiệu “LUNA BEAUTY” khi nhãn hiệu này đã được Công ty B bảo hộ hay không?

  1. Góc nhìn pháp lý – “Lá chắn vững chắc”

1.Cơ sở pháp lý

Theo khoản 1 Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng và ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc quyền của mình theo quy định của pháp luật

Theo khoản 5 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi như gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ.

Theo khoản 1 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp nếu việc sử dụng đó không thuộc các trường hợp ngoại lệ mà pháp luật quy định.

Theo điểm a khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, việc sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu mà không được phép của chủ sở hữu bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

Theo điểm b khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, việc sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan đến hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký mà có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

Theo điểm c khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, việc sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan nếu có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ cũng bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

Theo điểm d khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, đối với nhãn hiệu nổi tiếng, việc sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự, kể cả dưới dạng dịch nghĩa hoặc phiên âm, cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ mà có khả năng gây nhầm lẫn hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng cũng có thể bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

Theo khoản 2 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, chủ sở hữu nhãn hiệu không có quyền cấm một số hành vi thuộc các trường hợp ngoại lệ do pháp luật quy định, trong đó có việc lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm do chủ sở hữu hoặc người được chuyển giao quyền sử dụng đưa ra thị trường và một số trường hợp sử dụng trung thực tên người, dấu hiệu mô tả đặc tính của hàng hóa, dịch vụ.

Theo Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, việc sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh hoặc nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ có thể bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Theo Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp tự bảo vệ, bao gồm yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi, gỡ bỏ nội dung vi phạm và yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm

Theo Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp dân sự để xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự và buộc bồi thường thiệt hại

Theo Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần theo các căn cứ do pháp luật quy định

Theo Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, chủ thể quyền có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên xâm phạm bồi thường thiệt hại theo các căn cứ và mức bồi thường do pháp luật quy định

2.Áp dụng vào tình huống

Trong tình huống trên, Công ty B đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “LUNA BEAUTY” cho nhóm hàng hóa mỹ phẩm

Như vậy, trước hết cần xác định phạm vi bảo hộ được ghi nhận trong văn bằng, bao gồm dấu hiệu được bảo hộ và danh mục hàng hóa, dịch vụ được bảo hộ

Công ty A lại sử dụng chính dấu hiệu “LUNA BEAUTY” cho hàng hóa mỹ phẩm

Nếu dấu hiệu Công ty A sử dụng trùng với nhãn hiệu của Công ty B và hàng hóa mỹ phẩm của Công ty A trùng với hàng hóa thuộc danh mục được bảo hộ của Công ty B thì trường hợp này thuộc đúng trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 129

Khi đó, Công ty A không thể chỉ lập luận rằng mình không sao chép toàn bộ logo hoặc khách hàng vẫn có khả năng phân biệt hai doanh nghiệp để loại trừ trách nhiệm

Bởi đối với trường hợp dấu hiệu trùng và hàng hóa trùng, pháp luật đã xác định đây là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nếu không được chủ sở hữu cho phép

Trường hợp Công ty A không sử dụng dấu hiệu hoàn toàn trùng mà chỉ sử dụng dấu hiệu tương tự thì cần tiếp tục xem xét mức độ tương tự giữa hai dấu hiệu và khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ

Ví dụ, Công ty B bảo hộ nhãn hiệu “LUNA BEAUTY” nhưng Công ty A sử dụng “LUNA BEAUTE” cho cùng nhóm mỹ phẩm thì không thể chỉ nhìn vào việc hai dấu hiệu có khác nhau về một vài ký tự để kết luận không xâm phạm

Cơ quan có thẩm quyền phải xem xét tổng thể các yếu tố cấu thành dấu hiệu, cách trình bày, cách phát âm, ý nghĩa, ấn tượng thương mại và sự tương quan giữa hàng hóa, dịch vụ

Đối với lập luận của Công ty A rằng mình đã sử dụng dấu hiệu từ trước, cần phân biệt giữa việc sử dụng trước và quyền đối với nhãn hiệu đã được xác lập

Việc sử dụng trước không phải trong mọi trường hợp đều giúp Công ty A tiếp tục sử dụng nhãn hiệu

Nếu Công ty A thuộc trường hợp có quyền sử dụng trước theo quy định của pháp luật thì cần chứng minh đầy đủ các điều kiện để được hưởng quyền này

Ngược lại, nếu không đáp ứng điều kiện về quyền sử dụng trước thì việc Công ty A đã sử dụng dấu hiệu trước không đương nhiên làm mất quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu đã được bảo hộ

Tuy nhiên, pháp luật cũng không trao cho chủ sở hữu nhãn hiệu quyền cấm tuyệt đối mọi hành vi sử dụng dấu hiệu

Nếu Công ty A mua hàng hóa chính hãng do Công ty B hoặc người được Công ty B cho phép đưa ra thị trường rồi tiếp tục lưu thông hàng hóa đó thì cần xem xét quy định về giới hạn quyền của chủ sở hữu theo khoản 2 Điều 125

Tương tự, nếu Công ty A chỉ sử dụng một dấu hiệu với mục đích mô tả trung thực chủng loại, số lượng, chất lượng, công dụng, giá trị, nguồn gốc địa lý hoặc đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ thì cần xem xét ngoại lệ về sử dụng trung thực theo pháp luật

Do đó, muốn kết luận Công ty A có xâm phạm hay không phải xác định đồng thời ít nhất ba vấn đề: dấu hiệu Công ty A sử dụng là gì, hàng hóa hoặc dịch vụ được sử dụng cho đối tượng nào và nhãn hiệu của Công ty B được bảo hộ trong phạm vi nào

Nếu cả dấu hiệu và hàng hóa, dịch vụ đều thuộc trường hợp được bảo hộ và việc sử dụng không thuộc ngoại lệ thì Công ty A có nguy cơ rất cao bị xác định là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

3.Kết luận pháp lý

Việc sử dụng nhãn hiệu đã được đối thủ bảo hộ không phải lúc nào cũng mặc nhiên là vi phạm, nhưng nếu doanh nghiệp sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ và không thuộc trường hợp ngoại lệ thì có thể bị xác định là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Đặc biệt, trường hợp dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ và hàng hóa, dịch vụ cũng trùng với danh mục đăng ký thì rủi ro pháp lý là rất cao theo điểm a khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025

Doanh nghiệp không nên chỉ căn cứ vào việc mình đã sử dụng dấu hiệu trước, đã đăng ký tên doanh nghiệp hoặc cho rằng khách hàng vẫn có thể phân biệt được hai bên để kết luận mình có quyền tiếp tục sử dụng

Cần kiểm tra chính xác văn bằng bảo hộ của đối thủ, phạm vi hàng hóa, dịch vụ, tình trạng hiệu lực của văn bằng và các trường hợp ngoại lệ mà pháp luật cho phép

III. Góc nhìn Tâm lý – Giáo dục – Quản trị – “Chìa khóa nhân văn”

Góc nhìn pháp lý

Nhiều doanh nghiệp chỉ kiểm tra tên thương hiệu sau khi đã đầu tư rất lớn vào biển hiệu, bao bì, quảng cáo và hệ thống phân phối

Đến khi phát hiện tên mình đang sử dụng đã được doanh nghiệp khác bảo hộ thì chi phí thay đổi thương hiệu có thể rất lớn

Góc nhìn tâm lý – giáo dục

Doanh nghiệp thường có tâm lý cho rằng một cái tên đã được mình sử dụng lâu năm thì đương nhiên thuộc về mình

Tuy nhiên, trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, thời điểm sử dụng thực tế chỉ là một trong những yếu tố cần xem xét

Doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đến việc xác lập và bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu theo đúng quy định pháp luật

Góc nhìn quản trị

Nhãn hiệu không đơn thuần là một cái tên hay logo

Nhãn hiệu gắn với uy tín, khách hàng, thị trường và giá trị thương mại của doanh nghiệp

Nếu không kiểm tra tình trạng pháp lý của nhãn hiệu trước khi đầu tư thì doanh nghiệp có thể phải đối mặt với việc đổi tên thương hiệu, thu hồi bao bì, thay biển hiệu, thay đổi quảng cáo và bồi thường thiệt hại

  1. Giải pháp toàn diện của Chuyên gia Nguyễn Hữu Long

Bước 1: Tra cứu nhãn hiệu trước khi sử dụng

Doanh nghiệp cần tra cứu khả năng bảo hộ và tình trạng pháp lý của dấu hiệu dự kiến sử dụng trước khi đưa vào kinh doanh

Bước 2: Kiểm tra chính xác phạm vi bảo hộ

Không chỉ kiểm tra tên nhãn hiệu mà phải kiểm tra cả mẫu nhãn hiệu, chủ sở hữu, số văn bằng, thời hạn bảo hộ và danh mục hàng hóa, dịch vụ

Bước 3: Đánh giá nguy cơ xâm phạm

Doanh nghiệp cần so sánh dấu hiệu dự kiến sử dụng với nhãn hiệu đã được bảo hộ trên các phương diện về cấu trúc, cách phát âm, hình thức trình bày, ý nghĩa và khả năng gây nhầm lẫn

Bước 4: Không tiếp tục đầu tư khi chưa xác định quyền

Nếu phát hiện dấu hiệu có nguy cơ cao xâm phạm quyền của đối thủ, doanh nghiệp nên tạm dừng việc sử dụng và đánh giá phương án đổi nhãn hiệu hoặc đàm phán cấp quyền sử dụng

Bước 5: Xây dựng chiến lược bảo hộ riêng

Doanh nghiệp nên chủ động đăng ký nhãn hiệu của mình ngay khi lựa chọn được dấu hiệu phù hợp, tránh tình trạng đầu tư xây dựng thương hiệu trong thời gian dài nhưng lại không có quyền pháp lý tương ứng

GÓC NHÌN CHUYÊN GIA

Chuyên gia ThS. Nguyễn Hữu Long cho rằng, trong kinh doanh hiện đại, một thương hiệu tốt nhưng không kiểm tra quyền sở hữu trí tuệ có thể trở thành một tài sản đầy rủi ro

Doanh nghiệp không nên chỉ hỏi “Tên này có hay không?” mà phải hỏi thêm “Tên này có thuộc quyền của người khác không?”

Một dấu hiệu có thể được doanh nghiệp sử dụng nhiều năm nhưng nếu không kiểm tra tình trạng bảo hộ và phạm vi quyền của chủ thể khác thì doanh nghiệp vẫn có thể đối mặt với tranh chấp

Đặc biệt, khi đã phát hiện đối thủ có văn bằng bảo hộ đối với dấu hiệu trùng hoặc tương tự, doanh nghiệp cần đánh giá ngay phạm vi hàng hóa, dịch vụ và các trường hợp ngoại lệ trước khi tiếp tục sử dụng

THÔNG ĐIỆP CỦA CHUYÊN GIA

Đừng xây dựng thương hiệu trên một cái tên mà doanh nghiệp khác đã có quyền bảo hộ

Trước khi bỏ tiền cho logo, bao bì, biển hiệu và quảng cáo, hãy kiểm tra quyền đối với nhãn hiệu

Tra cứu trước một bước – tránh mất thương hiệu về sau

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc tương tự về đất đai hoặc học đường, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Để lại một bình luận