Trong hoạt động kinh doanh, hình ảnh thiết kế, poster, banner, bộ nhận diện thương hiệu, hình minh họa hay các sản phẩm thiết kế đồ họa thường được doanh nghiệp sử dụng rộng rãi để quảng bá sản phẩm, xây dựng thương hiệu và tiếp cận khách hàng
Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp cho rằng chỉ cần bỏ tiền thuê thiết kế và thanh toán đầy đủ chi phí thì đương nhiên được toàn quyền sử dụng sản phẩm thiết kế
Thực tế, việc xác định ai là tác giả, ai là chủ sở hữu quyền tác giả và doanh nghiệp được quyền sử dụng hình ảnh thiết kế đến đâu phải căn cứ vào quy định của pháp luật về quyền tác giả và thỏa thuận giữa các bên
Nếu doanh nghiệp sử dụng một thiết kế mà chưa xác định rõ quyền của mình thì hoàn toàn có thể phát sinh tranh chấp, thậm chí bị yêu cầu chấm dứt sử dụng và bồi thường thiệt hại
Hãy cùng chuyên gia ThS. Nguyễn Hữu Long phân tích một tình huống thực tế dưới đây để tìm ra giải pháp vẹn toàn cả về lý lẫn tình
I. Tóm tắt tình huống thực tế
Công ty A hoạt động trong lĩnh vực thời trang và thường xuyên sử dụng hình ảnh thiết kế để quảng bá sản phẩm trên website, mạng xã hội và các sàn thương mại điện tử
Năm 2025, Công ty A thuê anh B là một nhà thiết kế tự do thực hiện bộ hình ảnh quảng cáo cho một dòng sản phẩm mới với chi phí 50 triệu đồng
Hai bên trao đổi qua email về nội dung công việc, theo đó anh B có trách nhiệm thiết kế hình ảnh theo yêu cầu của Công ty A, còn Công ty A thanh toán đầy đủ chi phí thiết kế
Sau khi hoàn thành, Công ty A sử dụng các hình ảnh này trên website, mạng xã hội, bao bì sản phẩm và các tài liệu quảng cáo
Đến năm 2026, anh B gửi thông báo yêu cầu Công ty A chấm dứt việc sử dụng các hình ảnh trên và cho rằng mình là người trực tiếp sáng tạo nên là tác giả của các thiết kế
Anh B cho rằng Công ty A chỉ thuê thiết kế và thanh toán tiền dịch vụ, chứ chưa có thỏa thuận chuyển giao quyền tác giả cho Công ty A
Sau đó, anh B khởi kiện Công ty A, yêu cầu Tòa án xác định hành vi sử dụng hình ảnh thiết kế của Công ty A là hành vi xâm phạm quyền tác giả và yêu cầu bồi thường thiệt hại
Công ty A cho rằng mình đã thuê anh B thiết kế và thanh toán đầy đủ 50 triệu đồng nên có quyền sử dụng các hình ảnh để phục vụ hoạt động kinh doanh
Vấn đề đặt ra là: Công ty đã trả tiền thuê thiết kế thì có đương nhiên trở thành chủ sở hữu quyền tác giả đối với hình ảnh thiết kế hay không?
II. Góc nhìn pháp lý – “Lá chắn vững chắc”
1. Quy định của pháp luật
Theo Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký
Theo khoản 1 Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm
Theo khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được thể hiện dưới các hình thức theo quy định của pháp luật, trong đó có tác phẩm mỹ thuật ứng dụng
Theo Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, tác giả có các quyền nhân thân đối với tác phẩm, bao gồm quyền đặt tên, đứng tên thật hoặc bút danh, công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm
Theo khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, chủ sở hữu quyền tác giả có các quyền tài sản đối với tác phẩm, bao gồm quyền làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩm trước công chúng, sao chép tác phẩm, phân phối hoặc nhập khẩu để phân phối đến công chúng và các quyền khác theo quy định của pháp luật
Theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, hành vi xâm phạm quyền tác giả bao gồm hành vi xâm phạm quyền nhân thân, quyền tài sản và các hành vi khác được pháp luật xác định là hành vi xâm phạm quyền tác giả
Theo Điều 37 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đó
Theo khoản 2 Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
Theo khoản 1 Điều 41 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ quyền tác giả theo thỏa thuận trong hợp đồng thì trở thành chủ sở hữu đối với phần quyền được chuyển giao
Theo Điều 46 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan phải được lập thành văn bản và có các nội dung chủ yếu theo quy định của pháp luật
Theo Điều 48 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan phải được lập thành văn bản và xác định các nội dung chủ yếu về phạm vi chuyển quyền, giá, phương thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Theo Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, chủ thể quyền có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, gỡ bỏ và xóa nội dung vi phạm trên không gian mạng, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại và yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm
Theo Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp dân sự để xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự và buộc bồi thường thiệt hại
Theo Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, các bên trong tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ có quyền và nghĩa vụ chứng minh theo quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật về sở hữu trí tuệ
Theo Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần theo các căn cứ do pháp luật quy định
Theo Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, chủ thể quyền có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên xâm phạm bồi thường thiệt hại theo các căn cứ và mức bồi thường được pháp luật quy định
2. Áp dụng vào tình huống
Trong tình huống trên, anh B là người trực tiếp thực hiện hoạt động sáng tạo nên về nguyên tắc có thể được xác định là tác giả của các hình ảnh thiết kế nếu các sản phẩm này đáp ứng điều kiện bảo hộ quyền tác giả
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả
Việc anh B là tác giả không đồng nghĩa với việc anh B đương nhiên là chủ sở hữu toàn bộ quyền tài sản đối với tác phẩm trong mọi trường hợp
Công ty A đã giao kết với anh B để sáng tạo ra các hình ảnh thiết kế phục vụ hoạt động kinh doanh
Nếu quan hệ giữa hai bên thực chất là hợp đồng giao kết với tác giả để sáng tạo tác phẩm thì khoản 2 Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 là căn cứ trực tiếp để xác định quyền của Công ty A
Theo quy định này, tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
Như vậy, nếu Công ty A chứng minh được email, hợp đồng hoặc các tài liệu giao dịch thể hiện việc Công ty A giao kết với anh B để sáng tạo bộ hình ảnh phục vụ hoạt động kinh doanh thì Công ty A có cơ sở pháp lý để xác định mình là chủ sở hữu các quyền tài sản theo quy định
Tuy nhiên, việc Công ty A đã thanh toán 50 triệu đồng không phải là căn cứ duy nhất để kết luận Công ty A sở hữu quyền tác giả
Điểm quan trọng là phải xác định bản chất thỏa thuận giữa hai bên và phạm vi quyền mà các bên đã thống nhất
Nếu thỏa thuận chỉ xác định anh B cung cấp sản phẩm thiết kế và Công ty A được sử dụng sản phẩm trong một phạm vi nhất định thì cần xem xét đây là quan hệ sử dụng quyền tác giả hay quan hệ giao kết hợp đồng với tác giả để sáng tạo tác phẩm
Ngược lại, nếu hợp đồng hoặc email thể hiện rõ Công ty A thuê anh B sáng tạo thiết kế để Công ty A khai thác cho hoạt động kinh doanh và không có thỏa thuận hạn chế quyền thì Công ty A có cơ sở pháp lý mạnh hơn để bảo vệ quyền của mình
Công ty A cũng cần lưu ý rằng việc mình là chủ sở hữu các quyền tài sản không đồng nghĩa với việc Công ty A trở thành tác giả của tác phẩm
Anh B vẫn có thể là tác giả nếu anh B là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm
Do đó, Công ty A không được tự nhận mình là người sáng tạo ra tác phẩm hoặc thực hiện hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả
Một vấn đề quan trọng khác là nguồn gốc của các thành phần được sử dụng trong thiết kế
Nếu anh B sử dụng hình ảnh, font chữ, biểu tượng, mẫu thiết kế hoặc các tài nguyên của bên thứ ba mà không có quyền sử dụng hợp pháp thì việc Công ty A thanh toán tiền cho anh B không đương nhiên làm phát sinh quyền hợp pháp của Công ty A đối với các tài nguyên đó
Khi bị kiện, Công ty A cần cung cấp cho Tòa án toàn bộ hồ sơ gồm hợp đồng, email trao đổi, báo giá, chứng từ thanh toán, biên bản nghiệm thu, file thiết kế gốc và các tài liệu chứng minh quá trình giao kết và sử dụng tác phẩm
Nếu các chứng cứ chứng minh Công ty A là chủ sở hữu các quyền theo khoản 2 Điều 39 thì việc Công ty A sử dụng thiết kế trong phạm vi quyền của mình không phải là hành vi xâm phạm quyền tác giả
Ngược lại, nếu Công ty A chỉ được cấp quyền sử dụng trong một phạm vi nhất định nhưng lại sử dụng vượt quá phạm vi đó thì vẫn có thể phát sinh trách nhiệm do xâm phạm quyền tác giả
3. Kết luận pháp lý
Công ty trả tiền thuê thiết kế không đồng nghĩa trong mọi trường hợp với việc Công ty đương nhiên sở hữu toàn bộ quyền tác giả
Cần phân biệt rõ ba vấn đề: ai là tác giả, ai là chủ sở hữu quyền tác giả và doanh nghiệp được quyền khai thác tác phẩm trong phạm vi nào
Nếu Công ty giao kết hợp đồng với tác giả để sáng tạo tác phẩm thì khoản 2 Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 là căn cứ quan trọng để xác định Công ty là chủ sở hữu các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
Do đó, trong tình huống trên, Công ty A không nên chỉ dựa vào chứng cứ “đã trả 50 triệu đồng” mà phải chứng minh bản chất hợp đồng và phạm vi quyền mà Công ty được hưởng
Nếu Công ty A có đầy đủ căn cứ chứng minh mình là chủ sở hữu quyền tác giả đối với các quyền đang tranh chấp thì yêu cầu khởi kiện của anh B có thể không được chấp nhận đối với phần quyền mà Công ty A hợp pháp sở hữu
III. Góc nhìn Tâm lý – Giáo dục – Quản trị – “Chìa khóa nhân văn”
Góc nhìn pháp lý
Rủi ro phổ biến của doanh nghiệp là đồng nhất việc thanh toán tiền với việc sở hữu quyền tác giả
Trong khi đó, pháp luật sở hữu trí tuệ phân biệt rất rõ giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền nhân thân và quyền tài sản
Góc nhìn tâm lý – giáo dục
Người thiết kế thường có tâm lý cho rằng mình trực tiếp sáng tạo nên toàn bộ quyền đối với tác phẩm phải thuộc về mình
Doanh nghiệp lại thường có tâm lý ngược lại rằng mình là người bỏ tiền nên có quyền sử dụng và quyết định mọi vấn đề liên quan đến thiết kế
Hai cách hiểu này nếu không được thống nhất ngay từ đầu rất dễ dẫn đến tranh chấp sau khi tác phẩm đã được đưa vào khai thác thương mại
Góc nhìn quản trị
Đối với doanh nghiệp, quyền tác giả phải được xem là một loại tài sản cần quản trị
Đặc biệt với logo, bộ nhận diện thương hiệu, hình ảnh quảng cáo, bao bì, thiết kế sản phẩm và nội dung truyền thông, doanh nghiệp cần xác định rõ quyền sở hữu ngay từ khi ký hợp đồng
Không nên chờ đến khi bị kiện mới kiểm tra xem mình có quyền sử dụng tác phẩm hay không
Doanh nghiệp cần xác định rõ:
Tác giả là ai
Chủ sở hữu quyền tác giả là ai
Quyền tài sản nào được chuyển giao
Phạm vi sử dụng tác phẩm
Thời hạn sử dụng
Lãnh thổ sử dụng
Có được sửa đổi, cắt ghép hoặc tạo tác phẩm phái sinh hay không
Có được sử dụng cho quảng cáo, thương mại điện tử, bao bì và mạng xã hội hay không
Các thành phần do bên thứ ba cung cấp có được phép sử dụng hay không
IV. Giải pháp toàn diện của Chuyên gia Nguyễn Hữu Long
Bước 1: Xác định bản chất quan hệ giữa doanh nghiệp và người thiết kế
Doanh nghiệp cần xác định đây là hợp đồng dịch vụ thiết kế, hợp đồng giao kết với tác giả để sáng tạo tác phẩm, hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả hay hợp đồng sử dụng quyền tác giả
Bước 2: Rà soát toàn bộ hồ sơ giao dịch
Cần tập hợp hợp đồng, email, báo giá, chứng từ thanh toán, biên bản nghiệm thu, file thiết kế gốc và các trao đổi giữa hai bên để xác định ý chí thực sự của các bên
Bước 3: Xác định rõ quyền sở hữu và quyền sử dụng
Không nên chỉ ghi chung chung rằng “bên thuê được quyền sử dụng thiết kế”
Hợp đồng cần xác định cụ thể doanh nghiệp có quyền sao chép, phân phối, truyền đạt, sửa đổi, sử dụng thương mại và thực hiện các quyền khác đến mức nào
Bước 4: Kiểm tra nguồn gốc tài nguyên thiết kế
Doanh nghiệp cần yêu cầu người thiết kế chứng minh nguồn gốc hợp pháp của hình ảnh, font chữ, biểu tượng, mẫu thiết kế và các tài nguyên của bên thứ ba được sử dụng trong sản phẩm
Bước 5: Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền tác giả ngay từ đầu
Đối với logo, bộ nhận diện thương hiệu và các thiết kế có giá trị thương mại lớn, doanh nghiệp nên quy định cụ thể quyền tác giả ngay trong hợp đồng và lưu trữ đầy đủ chứng cứ về quá trình sáng tạo, giao nhận và thanh toán
GÓC NHÌN CHUYÊN GIA
Chuyên gia ThS. Nguyễn Hữu Long cho rằng, doanh nghiệp không nên hiểu đơn giản rằng “trả tiền là mua được bản quyền”
Trong lĩnh vực sáng tạo, một khoản tiền thanh toán có thể là tiền mua sản phẩm, tiền thuê dịch vụ thiết kế, tiền sử dụng quyền tác giả hoặc khoản tiền để nhận chuyển giao quyền tác giả
Mỗi bản chất pháp lý sẽ dẫn đến phạm vi quyền khác nhau
Đối với doanh nghiệp, cách phòng ngừa hiệu quả nhất không phải là chờ tranh chấp xảy ra rồi chứng minh mình đúng mà phải thiết kế hợp đồng ngay từ đầu để không phát sinh khoảng trống pháp lý
THÔNG ĐIỆP CỦA CHUYÊN GIA
Thuê người thiết kế không khó, khó là xác định rõ ai có quyền đối với thiết kế
Doanh nghiệp muốn sử dụng một thiết kế lâu dài phải biết mình đang sở hữu quyền gì, được sử dụng đến đâu và cần tôn trọng quyền nào của người sáng tạo
Đừng đợi đến khi nhận đơn kiện bản quyền mới đi tìm lại hợp đồng thiết kế
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc tương tự về đất đai hoặc học đường, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

