TÌNH HUỐNG 500: GIÁM ĐỐC VIỆN NGHIÊN CỨU CÔNG LẬP TỰ Ý KÝ DUYỆT ĐƯA TÊN VỢ VÀ CON GÁI (HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ CHUYÊN MÔN) VÀO DANH SÁCH NHẬN TIỀN THÙ LAO CHẤT XÁM ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU NGÂN SÁCH?

17 / 100 Điểm SEO

GIÁM ĐỐC VIỆN NGHIÊN CỨU CÔNG LẬP TỰ Ý KÝ DUYỆT ĐƯA TÊN VỢ VÀ CON GÁI (HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ CHUYÊN MÔN) VÀO DANH SÁCH NHẬN TIỀN THÙ LAO CHẤT XÁM ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU NGÂN SÁCH?

Góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị

Kinh phí dành cho khoa học không chỉ là những con số trong một dự toán. Đó là nguồn lực công được hình thành từ ngân sách nhà nước, được dành cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển tri thức phục vụ xã hội.

Vì vậy, nếu một người đứng đầu viện nghiên cứu công lập tự ý đưa người thân vào danh sách nhận thù lao của một đề tài mà họ không thực hiện công việc chuyên môn tương ứng, vấn đề đặt ra không chỉ là “chi tiền sai đối tượng”. Nếu có căn cứ cho thấy việc lập, duyệt hồ sơ nhằm chuyển tiền ngân sách vào lợi ích cá nhân hoặc người thân, vụ việc có thể đặt ra vấn đề về xung đột lợi ích, quản lý tài chính công, trách nhiệm công vụ và thậm chí trách nhiệm hình sự.

Nhưng cần nhấn mạnh ngay từ đầu: có tên trong danh sách nhận thù lao chưa đủ để kết luận một người phạm tội tham ô tài sản. Cơ quan có thẩm quyền phải xác minh người đó có thực sự tham gia đề tài hay không, công việc thực tế là gì, khoản tiền được phê duyệt dựa trên căn cứ nào, ai lập hồ sơ, ai phê duyệt, tiền được chuyển cho ai và người có chức vụ, quyền hạn có mục đích vụ lợi hay không.

  1. BỐI CẢNH THỰC TẾ

Hãy hình dung một đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước được giao cho một viện nghiên cứu công lập thực hiện. Hồ sơ đề tài có dự toán chi cho nhân công, chuyên gia, khảo sát, hội thảo và các khoản thù lao theo quy định.

Sau khi đề tài được triển khai, giám đốc viện ký duyệt bảng danh sách những người được nhận tiền. Trong danh sách đó xuất hiện tên vợ và con gái của giám đốc.

Nếu hai người này thực sự có chuyên môn phù hợp, có nhiệm vụ được giao, có sản phẩm hoặc thời gian lao động được xác nhận và khoản chi đáp ứng đúng quy định thì chỉ riêng quan hệ gia đình chưa thể dùng làm căn cứ kết luận vi phạm.

Ngược lại, nếu hồ sơ thể hiện họ không có chuyên môn liên quan, không tham gia nghiên cứu, không có sản phẩm khoa học, không có tài liệu chứng minh công việc nhưng vẫn được đưa vào danh sách nhận tiền, thì dấu hiệu bất thường trở nên rõ hơn.

Ví dụ, một đề tài nghiên cứu về công nghệ sinh học nhưng người được nhận thù lao không có nhiệm vụ chuyên môn, không có tên trong hồ sơ nhân sự thực hiện đề tài, không có báo cáo công việc, trong khi tiền vẫn được quyết toán như một khoản chi nghiên cứu. Khi đó, câu hỏi pháp lý không còn đơn giản là “ai được nhận tiền”, mà phải đi sâu vào căn cứ phát sinh khoản chi và tính trung thực của toàn bộ hồ sơ thanh toán.

Theo tôi, đây chính là điểm cần đặc biệt lưu ý trong quản trị khoa học công lập: tiền ngân sách dành cho nghiên cứu phải đi cùng với lao động khoa học thực tế. Không thể biến một đề tài nghiên cứu thành cơ chế phân phối lợi ích cho người thân của người có quyền quyết định.

  1. GÓC NHÌN PHÁP LÝ
  2. DƯỚI GÓC ĐỘ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG: QUAN HỆ GIA ĐÌNH CÓ THỂ LÀM PHÁT SINH XUNG ĐỘT LỢI ÍCH

Theo Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành, tham nhũng được hiểu là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi. Luật cũng xác định “xung đột lợi ích” là tình huống trong đó lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người thân thích của họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

Điều này có ý nghĩa rất rõ trong tình huống người đứng đầu cơ quan trực tiếp quyết định hoặc tham gia quyết định một khoản chi mà người hưởng lợi lại là vợ hoặc con của mình.

Không phải cứ người thân nhận tiền từ cơ quan là tham nhũng. Nhưng khi người có thẩm quyền biết mình đang ở trong tình huống có khả năng xung đột lợi ích, pháp luật đặt ra cơ chế để bảo đảm quyết định được thực hiện khách quan, trung thực. Điều 23 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định người có nhiệm vụ, công vụ nếu biết hoặc buộc phải biết có xung đột lợi ích thì phải báo cáo; người quản lý khi phát hiện xung đột lợi ích có thể áp dụng các biện pháp như giám sát, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ nhiệm vụ, hoặc tạm thời chuyển vị trí công tác.

Do đó, vấn đề đáng quan tâm không phải chỉ là “vợ và con có nhận tiền hay không”, mà là ai quyết định, quyết định dựa trên căn cứ nào và quy trình kiểm soát xung đột lợi ích có được thực hiện hay không.

  1. ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Từ ngày 01/10/2025, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 là căn cứ pháp lý mới về lĩnh vực này; Văn phòng Quốc hội đã ban hành Văn bản hợp nhất số 05/VBHN-VPQH ngày 05/02/2026.

Đối với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước, việc quản lý kinh phí phải gắn với nội dung, nhiệm vụ và quy định về tài chính. Hiện nay, Nghị định 265/2025/NĐ-CP quy định chi tiết về tài chính và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Thông tư 39/2025/TT-BKHCN quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán một số nội dung chi ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, có hiệu lực từ 01/01/2026.

Một nguyên tắc rất đáng chú ý của pháp luật khoa học là hoạt động nghiên cứu phải gắn với năng lực, chuyên môn và trách nhiệm thực tế của người tham gia. Luật trước đây cũng đã thể hiện rõ yêu cầu tổ chức, cá nhân sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ phải bố trí, sử dụng đúng năng lực, sở trường và tạo điều kiện để phát huy chuyên môn; các nguyên tắc này tiếp tục có ý nghĩa trong việc đánh giá tính thực chất của việc chi trả cho nhiệm vụ nghiên cứu.

Vì vậy, một bảng thanh toán ghi tên một cá nhân không đương nhiên chứng minh cá nhân đó đã thực hiện công việc khoa học. Khi có dấu hiệu bất thường, cần đối chiếu giữa bảng thanh toán với quyết định giao nhiệm vụ, hợp đồng, hồ sơ chuyên môn, sản phẩm nghiên cứu, biên bản nghiệm thu và chứng từ tài chính.

  1. KHI NÀO CÓ THỂ ĐẶT RA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ?

Đây là phần cần thận trọng nhất.

Điều 353 Bộ luật Hình sự quy định về Tội tham ô tài sản. Về bản chất, tội danh này đòi hỏi phải có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý, cùng các dấu hiệu cấu thành khác theo luật.

Nếu người đứng đầu viện có quyền quản lý, quyết định hoặc kiểm soát khoản kinh phí; sau đó cố ý lập hoặc chỉ đạo lập hồ sơ khống để tiền ngân sách được chuyển cho mình hoặc người thân và thực tế có hành vi chiếm đoạt, thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét dấu hiệu của tội tham ô tài sản nếu đủ căn cứ.

Tuy nhiên, nếu chưa chứng minh được yếu tố chiếm đoạt, hành vi có thể được xem xét dưới những tội danh khác tùy tình tiết. Chẳng hạn, Điều 356 Bộ luật Hình sự quy định về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ đối với trường hợp vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ và gây thiệt hại theo điều kiện luật định.

Do đó, tôi cho rằng cách tiếp cận đúng không phải là nhìn vào con số tiền rồi lập tức gọi đó là “tham ô”. Phải đi từ hành vi – quyền hạn – dòng tiền – mục đích – thiệt hại – chứng cứ.

  1. KIỂM TOÁN, THANH TRA VÀ XỬ LÝ DẤU HIỆU VI PHẠM

Khi xuất hiện dấu hiệu bất thường trong việc sử dụng ngân sách, cơ quan có thẩm quyền có thể kiểm tra, thanh tra hoặc kiểm toán theo chức năng, nhiệm vụ và quy định pháp luật.

Kiểm toán nhà nước có thẩm quyền kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước. Trong những vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, pháp luật cũng có cơ chế để xử lý và công khai báo cáo kiểm toán theo quy định.

Quy trình rà soát có thể bắt đầu từ những tài liệu tưởng như rất bình thường: quyết định giao đề tài, dự toán, bảng chấm công, danh sách chuyên gia, hợp đồng, bảng thanh toán, chứng từ chuyển khoản, báo cáo kết quả và hồ sơ nghiệm thu.

Nếu bảng thanh toán ghi một người nhận thù lao nhưng không có tài liệu chứng minh người đó thực hiện nhiệm vụ, cơ quan kiểm tra sẽ cần làm rõ. Nếu tiếp tục xuất hiện sự bất nhất giữa hồ sơ và dòng tiền, mức độ nghi vấn có thể tăng lên.

Trong trường hợp quá trình kiểm tra, thanh tra hoặc kiểm toán phát hiện dấu hiệu tội phạm, việc chuyển hồ sơ hoặc kiến nghị xử lý hình sự phải được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự pháp luật. Không phải cứ có sai phạm tài chính là cơ quan kiểm toán trực tiếp “khởi tố”. Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can thuộc thẩm quyền và trình tự tố tụng hình sự theo quy định.

III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ

Từ góc nhìn tâm lý tổ chức, những hành vi ưu ái người thân trong môi trường công lập thường bắt đầu từ một suy nghĩ tưởng như rất nhỏ: “Khoản tiền này không đáng bao nhiêu”.

Nhưng vấn đề của liêm chính công vụ không nằm ở riêng số tiền.

Một người có thể nghĩ rằng việc ký thêm một cái tên vào bảng thù lao chỉ là “giúp người nhà”. Một người khác có thể nghĩ rằng vì mình là giám đốc nên mình có quyền quyết định. Chính những cách nghĩ như vậy, nếu không được kiểm soát bằng cơ chế minh bạch, có thể làm mờ ranh giới giữa quyền quản lý và quyền hưởng lợi.

Trong khoa học, hậu quả còn có một tầng khác. Nếu người không thực hiện nghiên cứu vẫn được ghi nhận và nhận thù lao, người thực sự làm việc có thể cảm thấy công sức của mình bị xem nhẹ. Lâu dần, môi trường nghiên cứu có nguy cơ hình thành tâm lý “làm nhiều hay ít cũng vậy”, trong khi giá trị cốt lõi của khoa học lại nằm ở tính trung thực, năng lực và đóng góp thực chất.

Tôi cho rằng đây là vấn đề cần được nhìn dưới góc độ quản trị, chứ không chỉ chờ đến khi xảy ra vụ án mới xử lý.

Một viện nghiên cứu công lập cần có cơ chế tách người có quan hệ lợi ích trực tiếp khỏi quy trình quyết định liên quan đến người thân của họ. Hồ sơ thanh toán phải có khả năng truy nguyên: ai giao việc, ai thực hiện, sản phẩm ở đâu, ai nghiệm thu và căn cứ nào để thanh toán.

Khi một khoản tiền ngân sách có thể được giải thích bằng hồ sơ rõ ràng, nó ít có cơ hội trở thành vùng xám. Ngược lại, nếu hồ sơ chỉ tồn tại để hợp thức hóa một khoản tiền đã được quyết định trước, rủi ro pháp lý sẽ tăng lên đáng kể.

  1. KHUYẾN NGHỊ TỪ CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG

Theo quan điểm của tôi, khi phát hiện dấu hiệu bất thường trong việc chi thù lao đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước, điều quan trọng nhất là không biến nghi vấn thành kết luận khi chưa có chứng cứ.

Người phát hiện vụ việc nên lưu giữ những tài liệu có được một cách hợp pháp: quyết định giao nhiệm vụ, danh sách thành viên, bảng thanh toán, tài liệu chứng minh khối lượng công việc, báo cáo nghiên cứu, thông tin về nghiệm thu và các chứng từ liên quan. Nếu tài liệu ở dạng điện tử, cần chú ý bảo toàn bản gốc, thời điểm, nguồn cung cấp và thông tin xác thực của tài liệu.

Trong trường hợp cần thiết, người có quyền và lợi ích liên quan có thể sử dụng các cơ chế chứng minh phù hợp theo pháp luật. Việc lập vi bằng, nếu thuộc trường hợp được pháp luật cho phép, có thể hỗ trợ ghi nhận sự kiện, hành vi hoặc tình trạng được Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến. Tuy nhiên, vi bằng không tự động kết luận có tham nhũng hay tội phạm.

Sau khi có tài liệu, người dân có thể phản ánh, tố cáo hoặc cung cấp thông tin đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo đúng quy định. Luật Phòng, chống tham nhũng ghi nhận quyền của công dân trong việc phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng và trách nhiệm hợp tác với cơ quan có thẩm quyền trong quá trình phát hiện, xử lý.

Đối với cơ quan chủ quản của viện nghiên cứu, cần đặc biệt chú ý đến cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích. Khi người đứng đầu có người thân nằm trong danh sách được hưởng lợi, việc kiểm tra độc lập càng cần được coi trọng.

Còn đối với người làm khoa học, tôi muốn nhấn mạnh một điều: thù lao nghiên cứu phải đi sau đóng góp khoa học, không thể đi trước rồi tìm hồ sơ để hợp thức hóa.

Một nền khoa học có thể có những đề tài thành công và cũng có những đề tài chưa đạt kỳ vọng. Điều đó không đáng lo bằng việc hồ sơ khoa học bị làm sai lệch để phục vụ lợi ích cá nhân. Bởi khi niềm tin vào tính liêm chính của nghiên cứu bị suy giảm, thiệt hại không dừng ở một khoản ngân sách.

THÔNG ĐIỆP CUỐI CÙNG

Ngân sách nhà nước là tài sản công. Kinh phí khoa học là nguồn lực để tạo ra tri thức, công nghệ và những giá trị phục vụ xã hội. Vì vậy, mỗi quyết định chi tiêu phải được đặt trong yêu cầu về tính hợp pháp, minh bạch và hiệu quả.

Một người đứng đầu cơ quan công lập có thể có quyền ký. Nhưng quyền ký không đồng nghĩa với quyền biến nguồn lực công thành lợi ích riêng.

Và trong khoa học, danh sách nhận thù lao không chỉ là một bảng số liệu. Đó còn là sự ghi nhận đối với công sức, chuyên môn và đóng góp của từng người. Vì thế, càng là người quản lý, càng phải biết tự đặt mình ra khỏi lợi ích cá nhân khi quyết định những khoản chi có liên quan đến mình và người thân.

Phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực khoa học không chỉ nhằm thu hồi một khoản tiền sai. Mục tiêu sâu xa hơn là giữ cho hoạt động nghiên cứu được vận hành bằng năng lực thật, đóng góp thật và trách nhiệm thật.

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc về pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi cho chuyên gia tại: https://tuvanphapluattamlygiaoduc.vn/gui-cau-hoi-den-chuyen-gia/ hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Để lại một bình luận