Trong quá trình Startup gọi vốn, doanh nghiệp thường xây dựng kế hoạch kinh doanh dựa trên số vốn mà nhà đầu tư cam kết đầu tư
Tuy nhiên, sau khi ký thỏa thuận, nhà đầu tư chỉ rót một phần vốn hoặc không tiếp tục giải ngân theo cam kết, khiến Startup thiếu nguồn lực để thực hiện kế hoạch kinh doanh
Vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của Startup mà còn có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý của nhà đầu tư nếu nghĩa vụ đầu tư đã đến hạn và không có căn cứ hợp pháp để từ chối thực hiện
Hãy cùng chuyên gia ThS. Nguyễn Hữu Long phân tích một tình huống thực tế dưới đây để tìm ra giải pháp vẹn toàn cả về lý lẫn tình
I. TÓM TẮT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ
Startup A ký thỏa thuận đầu tư với nhà đầu tư B
Theo thỏa thuận, B cam kết đầu tư 20 tỷ đồng, được chia thành hai đợt
Đợt 1, B đã chuyển 10 tỷ đồng
Đợt 2, B có nghĩa vụ chuyển tiếp 10 tỷ đồng vào thời điểm đã được các bên thỏa thuận
Startup đã xây dựng kế hoạch kinh doanh, ký kết hợp đồng với đối tác và bố trí nhân sự dựa trên kế hoạch tiếp nhận đủ 20 tỷ đồng
Đến thời điểm giải ngân đợt 2, B không chuyển số tiền 10 tỷ đồng còn lại
B cho rằng mình không còn muốn tiếp tục đầu tư
Startup cho rằng B đã vi phạm cam kết và yêu cầu B tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đầu tư, đồng thời bồi thường những thiệt hại phát sinh
Vấn đề đặt ra là:
Nhà đầu tư có bắt buộc phải rót đủ số vốn đã cam kết không? Nếu không thực hiện thì Startup có quyền yêu cầu tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại hay không?
II. GÓC NHÌN PHÁP LÝ
1. Quy định của pháp luật
Nghĩa vụ đã cam kết phải được thực hiện đúng
Theo khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền
Vi phạm nghĩa vụ bao gồm không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.
Do đó, nếu nhà đầu tư đã cam kết giải ngân một khoản tiền theo thỏa thuận và nghĩa vụ đó đã đến hạn nhưng nhà đầu tư không thực hiện hoặc chỉ thực hiện một phần thì có thể cấu thành hành vi vi phạm nghĩa vụ
Bên có quyền có thể yêu cầu tiếp tục thực hiện nghĩa vụ
Theo Điều 352 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ.
Vì vậy, nếu nghĩa vụ giải ngân 10 tỷ đồng đã đến hạn và nhà đầu tư không có căn cứ hợp pháp để từ chối thì Startup có thể yêu cầu nhà đầu tư tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận
Trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ
Theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Dân sự năm 2015, chậm thực hiện nghĩa vụ là trường hợp nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện hoặc chỉ được thực hiện một phần khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết
Theo khoản 2 Điều 353, bên chậm thực hiện nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền về việc không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn.
Do đó, nếu nhà đầu tư đã đến hạn giải ngân nhưng không chuyển tiền thì cần xác định đây có phải là trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ hay không
Vi phạm nghĩa vụ có thể phải bồi thường thiệt hại
Theo Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Như vậy, Startup không đương nhiên được yêu cầu một khoản bồi thường bất kỳ
Startup phải chứng minh có thiệt hại thực tế và thiệt hại đó phát sinh do việc nhà đầu tư vi phạm nghĩa vụ
Có thể thỏa thuận phạt vi phạm
Theo khoản 1 Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015, phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm
Theo khoản 2 Điều 418, mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác
Theo khoản 3 Điều 418, các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm chỉ phải chịu phạt vi phạm hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm vừa phải bồi thường thiệt hại.
Do đó, nếu thỏa thuận đầu tư có điều khoản phạt khi nhà đầu tư không giải ngân đúng cam kết thì Startup có thể căn cứ vào điều khoản này để yêu cầu phạt vi phạm
Thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Theo khoản 1 Điều 419 Bộ luật Dân sự năm 2015, thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo khoản 2 Điều 419, Điều 13 và Điều 360
Theo khoản 2 Điều 419, người có quyền có thể yêu cầu bồi thường lợi ích mà lẽ ra mình được hưởng do hợp đồng mang lại và các chi phí phát sinh do hợp đồng không hoàn thành, với điều kiện không bị trùng lặp với khoản bồi thường khác.
Trường hợp nhà đầu tư đăng ký mua cổ phần nhưng không thanh toán đủ
Nếu tình huống không chỉ là “cam kết đầu tư” mà nhà đầu tư đã đăng ký mua cổ phần khi đăng ký thành lập công ty, thì áp dụng quy định riêng của Luật Doanh nghiệp
Theo khoản 1 Điều 113 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định thời hạn khác ngắn hơn.
Nếu hết thời hạn mà nhà đầu tư chưa thanh toán hoặc chỉ thanh toán một phần thì áp dụng điểm a, điểm b, điểm c và điểm d khoản 3 Điều 113
Trong đó:
Điểm a khoản 3 Điều 113: cổ đông chưa thanh toán số cổ phần đã đăng ký mua đương nhiên không còn là cổ đông của công ty và không được chuyển nhượng quyền mua cổ phần đó
Điểm b khoản 3 Điều 113: cổ đông chỉ thanh toán một phần thì có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán
Điểm c khoản 3 Điều 113: cổ phần chưa thanh toán được coi là cổ phần chưa bán và Hội đồng quản trị được quyền bán
Điểm d khoản 3 Điều 113: công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng mệnh giá số cổ phần đã được thanh toán đủ trong thời hạn luật định.
Ngoài ra, theo khoản 4 Điều 113, cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua vẫn phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn luật định.
2. Áp dụng vào tình huống
Trường hợp 1: Nhà đầu tư đã cam kết rót 20 tỷ đồng theo hợp đồng đầu tư
Nếu hợp đồng xác định rõ B phải giải ngân 20 tỷ đồng và đợt 2 trị giá 10 tỷ đồng đã đến hạn, các điều kiện giải ngân đã được đáp ứng nhưng B không chuyển tiền thì đây có thể là vi phạm nghĩa vụ theo khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự
Startup có thể yêu cầu B tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo Điều 352
Nếu việc không giải ngân gây ra thiệt hại thực tế thì Startup có thể yêu cầu bồi thường theo Điều 360 và Điều 419
Nếu hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm thì có thể yêu cầu phạt theo Điều 418
Trường hợp 2: Nhà đầu tư chỉ rót một phần vốn
Ví dụ B cam kết 20 tỷ đồng nhưng mới chuyển 8 tỷ đồng và không chuyển 12 tỷ đồng còn lại
Không thể chỉ dựa vào con số “20 tỷ đồng cam kết” để kết luận ngay B vi phạm
Phải kiểm tra:
Thời hạn giải ngân đã đến chưa → điều kiện giải ngân đã xảy ra chưa → B có quyền từ chối giải ngân theo hợp đồng không → việc không giải ngân có thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hay không
Nếu nghĩa vụ đã đến hạn và không có căn cứ hợp pháp để từ chối thì phần vốn chưa giải ngân có thể được xem là nghĩa vụ chưa được thực hiện đầy đủ
Trường hợp 3: Startup chưa đáp ứng điều kiện giải ngân
Nếu hợp đồng quy định B chỉ phải giải ngân đợt 2 khi Startup đạt một điều kiện cụ thể nhưng Startup chưa đáp ứng điều kiện đó thì không thể mặc nhiên kết luận nhà đầu tư vi phạm
Ví dụ:
“Nhà đầu tư giải ngân đợt 2 khi Startup đạt doanh thu 5 tỷ đồng”
Nếu Startup chưa đạt doanh thu 5 tỷ đồng thì nghĩa vụ giải ngân đợt 2 có thể chưa phát sinh
Do đó, phải đọc chính xác điều khoản về điều kiện giải ngân trước khi yêu cầu trách nhiệm của nhà đầu tư
Trường hợp 4: Nhà đầu tư đã đăng ký mua cổ phần nhưng không thanh toán đủ
Nếu đây là trường hợp đăng ký mua cổ phần khi thành lập công ty thì áp dụng Điều 113 Luật Doanh nghiệp, không chỉ áp dụng Bộ luật Dân sự
Nếu nhà đầu tư chỉ thanh toán một phần thì theo điểm b khoản 3 Điều 113, quyền của nhà đầu tư chỉ tương ứng với số cổ phần đã thanh toán
Do đó, nhà đầu tư không thể yêu cầu quyền lợi tương ứng với toàn bộ số cổ phần đã đăng ký nhưng chưa thanh toán
Trường hợp 5: Nhà đầu tư viện lý do khó khăn tài chính để không giải ngân
Việc nhà đầu tư gặp khó khăn tài chính không đương nhiên làm chấm dứt nghĩa vụ
Phải xem xét thỏa thuận đầu tư có cho phép nhà đầu tư rút lui hoặc thay đổi lịch giải ngân hay không
Đồng thời phải xem xét có căn cứ miễn trách nhiệm theo khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015 hay không.
3. Kết luận pháp lý
Nhà đầu tư không rót đủ vốn như cam kết có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý, nhưng phải xác định đúng loại cam kết
Nếu là cam kết giải ngân theo hợp đồng đầu tư, CSPL chính là:
Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015
Điều 352 Bộ luật Dân sự năm 2015
Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015
Khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015
Khoản 1 và khoản 2 Điều 419 Bộ luật Dân sự năm 2015
Nếu là đăng ký mua cổ phần khi thành lập công ty, áp dụng thêm:
Khoản 1, điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 3 và khoản 4 Điều 113 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025
Như vậy, không thể dùng Điều 113 Luật Doanh nghiệp cho mọi trường hợp nhà đầu tư “cam kết rót vốn”. Điều 113 chỉ trực tiếp điều chỉnh việc thanh toán cổ phần đã đăng ký mua khi đăng ký thành lập doanh nghiệp.
III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ
Góc nhìn pháp lý
Founder phải phân biệt rõ cam kết đầu tư theo hợp đồng với nghĩa vụ thanh toán cổ phần đã đăng ký mua
Góc nhìn tâm lý
Không nên coi khoản tiền nhà đầu tư “hứa đầu tư” là nguồn vốn chắc chắn cho đến khi điều kiện giải ngân được đáp ứng và tiền thực tế được chuyển vào công ty
Góc nhìn quản trị
Kế hoạch tài chính của Startup cần có phương án dự phòng nếu nhà đầu tư chậm hoặc không giải ngân
IV. GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CỦA CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG
Bước 1
Ghi chính xác tổng số vốn nhà đầu tư cam kết
Bước 2
Quy định rõ số tiền và thời điểm giải ngân của từng đợt
Bước 3
Xác định cụ thể điều kiện để nghĩa vụ giải ngân phát sinh
Bước 4
Quy định hậu quả khi nhà đầu tư chậm hoặc không giải ngân
Bước 5
Thỏa thuận rõ về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong phạm vi pháp luật cho phép
Bước 6
Nếu phát hành cổ phần, phải xác định riêng nghĩa vụ thanh toán cổ phần theo Điều 113 Luật Doanh nghiệp
GÓC NHÌN CHUYÊN GIA
Trong một thương vụ Startup, “cam kết đầu tư” chưa đồng nghĩa với “đã góp vốn”
Founder cần xác định chính xác:
Cam kết bằng văn bản nào → nghĩa vụ giải ngân đã phát sinh chưa → điều kiện giải ngân đã đáp ứng chưa → thời hạn đã đến chưa → nếu vi phạm thì hợp đồng quy định hậu quả gì
Nếu nghĩa vụ đã đến hạn mà nhà đầu tư không thực hiện, Startup có thể xem xét yêu cầu tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại theo đúng căn cứ pháp luật và thỏa thuận
Còn nếu nhà đầu tư đăng ký mua cổ phần nhưng không thanh toán đủ, phải áp dụng cơ chế riêng tại Điều 113 Luật Doanh nghiệp
Đừng chỉ hỏi “Nhà đầu tư đã cam kết bao nhiêu tiền?”
Mà phải hỏi:
“Nghĩa vụ rót tiền đã phát sinh chưa và nếu nhà đầu tư không thực hiện thì Startup có quyền yêu cầu gì?”
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc tương tự về đất đai hoặc học đường, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

