Trong hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A – Mergers and Acquisitions), bên mua thường tập trung đàm phán với cổ đông lớn hoặc nhóm cổ đông có khả năng quyết định quyền kiểm soát doanh nghiệp
Tuy nhiên, trong nhiều thương vụ M&A, các cổ đông nhỏ lẻ không trực tiếp tham gia đàm phán và cũng không có một điều khoản riêng cam kết về quyền lợi của họ sau giao dịch
Điều này đặt ra vấn đề: Nếu một thương vụ M&A không có cam kết riêng về quyền lợi cho cổ đông nhỏ lẻ thì có vi phạm pháp luật hay không? Cổ đông nhỏ lẻ có bị buộc phải bán cổ phần hoặc phải chấp nhận phương án M&A hay không?
Hãy cùng chuyên gia ThS Nguyễn Hữu Long phân tích tình huống thực tế dưới đây để làm rõ cơ chế pháp luật bảo vệ cổ đông nhỏ lẻ trong hoạt động M&A
I. Tóm tắt tình huống thực tế
Công ty cổ phần A hoạt động trong lĩnh vực công nghệ và có 10 triệu cổ phần phổ thông đang lưu hành
Cơ cấu cổ đông của Công ty A gồm Founder X sở hữu 55% cổ phần, Nhà đầu tư B sở hữu 30% cổ phần và các cổ đông nhỏ lẻ sở hữu tổng cộng 15% cổ phần
Doanh nghiệp C muốn thực hiện M&A đối với Công ty A nhằm thâu tóm quyền kiểm soát và mở rộng hoạt động kinh doanh
Sau quá trình đàm phán, Công ty C thỏa thuận mua toàn bộ 55% cổ phần của Founder X và một phần cổ phần của Nhà đầu tư B
Trong thỏa thuận M&A, Công ty C cam kết với Founder X và Nhà đầu tư B về giá chuyển nhượng, vị trí quản trị và một số quyền lợi sau giao dịch
Tuy nhiên, không có điều khoản riêng nào cam kết về quyền lợi của 15% cổ phần thuộc các cổ đông nhỏ lẻ
Sau khi hoàn tất giao dịch, Công ty C trở thành cổ đông kiểm soát Công ty A
Các cổ đông nhỏ lẻ lo ngại rằng sau M&A, quyền biểu quyết của họ sẽ bị hạn chế trên thực tế, định hướng hoạt động của công ty thay đổi, khả năng nhận cổ tức bị ảnh hưởng và giá trị khoản đầu tư có thể giảm
Các cổ đông nhỏ lẻ cho rằng: “Chúng tôi không được tham gia đàm phán và không có cam kết bảo vệ quyền lợi, vậy thương vụ M&A có hợp pháp hay không?”
II. Góc nhìn pháp lý – “Lá chắn vững chắc”
1. Quy định của pháp luật
Theo khoản 1 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, cổ đông phổ thông có quyền tham dự, phát biểu trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo ủy quyền hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty, pháp luật quy định; mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết
Theo điểm b khoản 1 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, cổ đông phổ thông có quyền nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông
Theo điểm c khoản 1 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, cổ đông phổ thông có quyền ưu tiên mua cổ phần mới tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty
Theo điểm d khoản 1 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, cổ đông phổ thông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120, khoản 1 Điều 127 của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan
Theo khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần; trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng
Theo khoản 2 Điều 127 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, việc chuyển nhượng cổ phần được thực hiện bằng hợp đồng hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán; trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng thì giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc người đại diện theo ủy quyền của họ ký
Theo khoản 1 Điều 138 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết và là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần
Theo điểm i khoản 2 Điều 138 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Đại hội đồng cổ đông có quyền và nghĩa vụ quyết định tổ chức lại, giải thể công ty
Theo khoản 2 Điều 148 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, nghị quyết về các vấn đề thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 148 được thông qua nếu được số cổ đông đại diện từ 65% tổng số phiếu biểu quyết trở lên của tất cả cổ đông tham dự và biểu quyết tại cuộc họp tán thành, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định tỷ lệ khác theo luật định
Theo điểm đ khoản 1 Điều 148 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, vấn đề tổ chức lại, giải thể công ty thuộc nhóm nội dung phải đạt tỷ lệ biểu quyết từ 65% tổng số phiếu biểu quyết trở lên theo quy định tại khoản 1 Điều 148
Theo khoản 1 Điều 132 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, cổ đông đã biểu quyết không thông qua nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình; yêu cầu phải bằng văn bản và phải được gửi đến công ty trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị quyết về các vấn đề quy định tại khoản này
Theo khoản 2 Điều 132 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá định giá
Theo Điều 133 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, công ty có quyền mua lại không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán, một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán; Hội đồng quản trị có quyền quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại đã bán trong thời hạn 12 tháng, trường hợp khác thì việc mua lại cổ phần do Đại hội đồng cổ đông quyết định
Theo khoản 1 Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2020, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, công ty chỉ được thanh toán cổ phần được mua lại cho cổ đông theo Điều 132 và Điều 133 nếu ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
Theo Điều 35 Luật Chứng khoán năm 2019, được sửa đổi, bổ sung năm 2024, tổ chức, cá nhân phải thực hiện chào mua công khai đối với các trường hợp mua cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty đại chúng theo các trường hợp và điều kiện được pháp luật chứng khoán quy định
Theo Nghị định số 155/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung, việc chào mua công khai phải tuân thủ các quy định về trường hợp chào mua, hồ sơ đăng ký, trình tự thực hiện, công bố thông tin và các nguyên tắc liên quan đến giao dịch chào mua công khai
Theo khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện về chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập, chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện và mục đích, nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
2. Áp dụng vào tình huống
Trong tình huống trên, việc Công ty C không ký cam kết riêng với 15% cổ đông nhỏ lẻ chưa đủ căn cứ để kết luận thương vụ M&A trái pháp luật
Trước hết cần xác định Công ty C đang thực hiện M&A bằng phương thức nào
Nếu Công ty C chỉ mua 55% cổ phần từ Founder X thì đây là giao dịch chuyển nhượng cổ phần giữa Founder X và Công ty C
Theo khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp, cổ phần về nguyên tắc được tự do chuyển nhượng
Do đó, Founder X có quyền chuyển nhượng số cổ phần của mình cho Công ty C nếu giao dịch không thuộc trường hợp bị hạn chế theo pháp luật hoặc Điều lệ công ty
Trong trường hợp này, các cổ đông nhỏ lẻ không phải là bên chuyển nhượng nên không đương nhiên có quyền yêu cầu Công ty C phải ký cam kết riêng với họ
Việc Công ty C mua được 55% cổ phần của Founder X cũng không làm phát sinh nghĩa vụ buộc 15% cổ đông nhỏ lẻ phải bán cổ phần
Các cổ đông nhỏ lẻ vẫn là cổ đông của Công ty A và tiếp tục được hưởng các quyền tương ứng với số cổ phần mà họ sở hữu
M&A có làm mất quyền của cổ đông nhỏ lẻ không?
Không
Công ty C trở thành cổ đông kiểm soát chỉ có nghĩa Công ty C có khả năng chi phối các quyết định của công ty trong phạm vi tỷ lệ biểu quyết mà mình sở hữu
Điều này không đồng nghĩa Công ty C trở thành chủ sở hữu đối với phần cổ phần thuộc về các cổ đông nhỏ lẻ
15% cổ phần vẫn thuộc về các cổ đông nhỏ lẻ
Họ vẫn có quyền tham dự, phát biểu và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông theo khoản 1 Điều 115 Luật Doanh nghiệp
Nếu M&A dẫn đến tổ chức lại công ty thì sao?
Đây là trường hợp cần phân tích khác
Nếu sau khi nắm quyền kiểm soát, Công ty C thực hiện sáp nhập, hợp nhất hoặc một hình thức tổ chức lại Công ty A thì vấn đề này thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông theo điểm i khoản 2 Điều 138 Luật Doanh nghiệp
Khi đó, các cổ đông nhỏ lẻ có quyền tham gia Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết
Nếu nghị quyết tổ chức lại công ty được đưa ra và cổ đông nhỏ lẻ biểu quyết không thông qua nghị quyết thì cần xem xét khoản 1 Điều 132 Luật Doanh nghiệp
Nếu đáp ứng điều kiện của Điều 132, cổ đông có quyền yêu cầu Công ty A mua lại cổ phần của mình
Cổ đông nhỏ lẻ có thể bị buộc phải bán cổ phần không?
Về nguyên tắc là không
Trong tình huống Công ty C mua cổ phần từ Founder X, các cổ đông nhỏ lẻ không phải là bên bán
Do đó, họ không có nghĩa vụ đương nhiên phải bán phần cổ phần của mình cho Công ty C
Việc chuyển nhượng cổ phần phải dựa trên giao dịch hợp pháp hoặc trường hợp pháp luật có quy định khác
Vì vậy, không thể chỉ dựa vào việc Công ty C đã trở thành cổ đông kiểm soát để buộc các cổ đông nhỏ lẻ phải chuyển nhượng cổ phần
Nếu quyền của cổ đông nhỏ lẻ bị thay đổi sau M&A thì sao?
Nếu sau M&A, Công ty C sử dụng quyền kiểm soát để đề xuất thay đổi quyền hoặc nghĩa vụ của cổ đông thì phải xác định nội dung thay đổi có thuộc trường hợp phải được Đại hội đồng cổ đông thông qua hay không
Nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 132 Luật Doanh nghiệp, cổ đông đã biểu quyết không thông qua nghị quyết có thể yêu cầu công ty mua lại cổ phần
Tuy nhiên, quyền này không phải là quyền phát sinh trong mọi trường hợp M&A
Nó chỉ phát sinh khi đáp ứng đúng điều kiện mà Điều 132 đặt ra
Nếu Công ty A là công ty đại chúng thì sao?
Nếu Công ty A là công ty đại chúng, cần xem xét thêm quy định của pháp luật chứng khoán về chào mua công khai
Trong trường hợp giao dịch của Công ty C thuộc trường hợp phải chào mua công khai, Công ty C phải thực hiện theo trình tự, thủ tục và điều kiện của pháp luật chứng khoán
Khi đó, quyền lợi của cổ đông nhỏ lẻ không chỉ được xem xét theo Luật Doanh nghiệp mà còn phải xem xét theo Luật Chứng khoán và Nghị định số 155/2020/NĐ-CP
3. Kết luận pháp lý
M&A không có cam kết riêng về quyền lợi cho cổ đông nhỏ lẻ không đương nhiên là vi phạm pháp luật
Nếu Công ty C chỉ mua cổ phần của Founder X thì đây là giao dịch chuyển nhượng cổ phần giữa bên mua và cổ đông lớn
Các cổ đông nhỏ lẻ không phải là bên chuyển nhượng nên không đương nhiên phải bán cổ phần hoặc phải ký cam kết với Công ty C
Tuy nhiên, sau khi trở thành cổ đông kiểm soát, Công ty C vẫn phải tôn trọng các quyền hợp pháp của những cổ đông còn lại
Nếu M&A dẫn đến tổ chức lại công ty, vấn đề phải được xem xét theo thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông và điều kiện thông qua nghị quyết theo Điều 138 và Điều 148 Luật Doanh nghiệp
Nếu cổ đông đã biểu quyết không thông qua nghị quyết về tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông thuộc trường hợp luật định thì có thể phát sinh quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần theo Điều 132 Luật Doanh nghiệp
Đặc biệt, việc công ty mua lại cổ phần còn phải bảo đảm điều kiện tại khoản 1 Điều 134 Luật Doanh nghiệp, tức là sau khi thanh toán số cổ phần mua lại, công ty vẫn phải bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
Nếu Công ty A là công ty đại chúng thì phải xem xét thêm quy định về chào mua công khai
Vì vậy, việc không có cam kết riêng với cổ đông nhỏ lẻ không phải là yếu tố quyết định tính hợp pháp của thương vụ M&A
Yếu tố quyết định là cách thức M&A được thực hiện, quyền của cổ đông được bảo đảm như thế nào, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông có được thông qua đúng quy định hay không và bên mua có tuân thủ các nghĩa vụ pháp lý tương ứng hay không
III. Góc nhìn Tâm lý – Giáo dục – Quản trị – “Chìa khóa nhân văn”
Góc nhìn pháp lý
Cổ đông nhỏ lẻ thường không có khả năng kiểm soát doanh nghiệp nhưng vẫn có các quyền pháp lý gắn với số cổ phần mà mình sở hữu
Việc một nhà đầu tư trở thành cổ đông kiểm soát không làm mất quyền sở hữu cổ phần của những cổ đông còn lại
Góc nhìn tâm lý – giáo dục
Cổ đông nhỏ lẻ thường có tâm lý lo ngại khi doanh nghiệp xuất hiện một cổ đông kiểm soát mới
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa quyền kiểm soát doanh nghiệp và quyền sở hữu cổ phần
Một cổ đông sở hữu tỷ lệ nhỏ có thể không đủ khả năng chi phối nghị quyết nhưng vẫn có quyền thực hiện các quyền cổ đông theo pháp luật
Góc nhìn quản trị
Một thương vụ M&A chỉ chú trọng lợi ích của cổ đông kiểm soát mà bỏ qua quyền lợi của cổ đông nhỏ lẻ có thể tạo ra rủi ro tranh chấp sau giao dịch
Doanh nghiệp cần bảo đảm minh bạch thông tin, thực hiện đúng quy trình ra quyết định và tôn trọng quyền của các cổ đông còn lại
IV. Giải pháp toàn diện của Chuyên gia Nguyễn Hữu Long
Bước 1 Xác định chính xác hình thức M&A
Doanh nghiệp phải xác định giao dịch là chuyển nhượng cổ phần, mua tài sản, sáp nhập, hợp nhất hay hình thức khác
Việc xác định đúng bản chất giao dịch là cơ sở để xác định hệ thống pháp luật áp dụng
Bước 2 Rà soát quyền của cổ đông nhỏ lẻ
Doanh nghiệp cần rà soát cơ cấu cổ đông, loại cổ phần, tỷ lệ biểu quyết, Điều lệ công ty và những thay đổi dự kiến sau M&A
Đặc biệt cần xác định giao dịch có làm thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông hoặc dẫn đến tổ chức lại công ty hay không
Bước 3 Thiết lập cơ chế bảo vệ cổ đông
Doanh nghiệp cần bảo đảm cổ đông được thực hiện đầy đủ quyền của mình, tuân thủ trình tự thông qua nghị quyết Đại hội đồng cổ đông và áp dụng cơ chế yêu cầu công ty mua lại cổ phần khi phát sinh trường hợp thuộc Điều 132 Luật Doanh nghiệp
Nếu doanh nghiệp là công ty đại chúng thì phải đồng thời rà soát nghĩa vụ chào mua công khai theo pháp luật chứng khoán
GÓC NHÌN CHUYÊN GIA
Chuyên gia ThS Nguyễn Hữu Long cho rằng, trong một thương vụ M&A, câu hỏi “có cam kết riêng cho cổ đông nhỏ lẻ hay không” chưa phải là yếu tố quyết định tính hợp pháp của giao dịch
Điều quan trọng là phải xác định phương thức M&A, quyền của cổ đông, thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông và các nghĩa vụ pháp lý phát sinh đối với bên mua
Một nhà đầu tư có thể trở thành cổ đông kiểm soát sau khi mua một tỷ lệ cổ phần lớn nhưng quyền kiểm soát không đồng nghĩa với quyền tước bỏ các quyền hợp pháp của những cổ đông còn lại
Đối với công ty đại chúng, các quy định về chào mua công khai càng cho thấy việc thay đổi quyền kiểm soát doanh nghiệp phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các cổ đông
Do đó, một thương vụ M&A được thiết kế tốt không chỉ cần bảo đảm mục tiêu chuyển giao quyền kiểm soát mà còn phải kiểm soát rủi ro pháp lý đối với cổ đông nhỏ lẻ ngay từ giai đoạn đàm phán và thẩm định pháp lý
THÔNG ĐIỆP CỦA CHUYÊN GIA
Không có cam kết riêng không đồng nghĩa với không có quyền được pháp luật bảo vệ
Trong M&A, quyền kiểm soát có thể thay đổi nhưng quyền sở hữu cổ phần và các quyền pháp lý gắn với cổ phần của cổ đông không tự động biến mất
Một thương vụ M&A bền vững phải bảo đảm đồng thời lợi ích của bên mua, doanh nghiệp mục tiêu và quyền, lợi ích hợp pháp của các cổ đông còn lại
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc tương tự về đất đai hoặc học đường, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

