TÌNH HUỐNG 161: HÀNG XÓM ĐÀO GIẾNG KHƠI SÁT RANH ĐẤT LÀM SỤT LÚN NGHIÊM TRỌNG BỜ TƯỜNG RÀO KIÊN CỐ NHÀ BÊN CẠNH?

9 / 100 Điểm SEO

Phân tích thực tiễn chuyên sâu dưới góc nhìn Pháp lý, Tâm lý và Quản trị theo quan điểm của Chuyên gia Nguyễn Hữu Long

1 – Tóm tắt tình huống thực tế

Hộ ông Nguyễn Văn A và hộ ông Trần Văn B là hai gia đình hàng xóm sống liền kề tại xã B, tỉnh C. Để phục vụ nhu cầu tưới tiêu mùa khô, ông B đã thuê thợ về đào một chiếc giếng khơi đường kính hơn 1.5m, sâu gần 10m ngay sát đường ranh giới đất giáp ranh với nhà ông A.

Trong quá trình đào giếng khơi, do địa chất đất cát pha yếu và không có biện pháp chống sạt cọc nhồi hay kè thành giếng kịp thời, đất bên dưới phần tường rào kiên cố của nhà ông A bị rút ruột, dồn chân sạt lở. Hậu quả là toàn bộ bờ tường rào bê tông dài 15m, cao 2.5m của hộ ông A bị nứt toác, nghiêng hẫng và sụt lún nghiêm trọng, có nguy cơ sập đổ hoàn toàn, gây hư hỏng lớn đến tài sản của nhà ông A.

Khi ông A sang yêu cầu dừng thi công và bồi thường thiệt hại đối với phần bờ tường rào bị hư hỏng, ông B lại gạt đi và cho rằng: “Đất nhà tôi tôi đào, giếng đào trên đất nhà tôi chứ tôi có đào sang đất nhà ông đâu mà hạch sách!”. Bất bình trước thái độ thiếu trách nhiệm và tiếc nuối tài sản bị hư hỏng, ông A đã xảy ra tranh chấp gay gắt, hai bên lời qua tiếng lại chửi bới nảy lửa, làm bùng nổ xung đột xây dựng ở vùng nông thôn và chuẩn bị đệ đơn kiện nhau ra Tòa án.

2 – Góc nhìn pháp lý – “Lá chắn vững chắc”

Hành vi đào giếng sát ranh đất gây sụt lún công trình bờ tường rào nhà bên cạnh của ông B là không đúng theo quyđịnh pháp luật.

Dù ông B thực hiện hoạt động đào giếng trên phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình, nhưng pháp luật bắt buộc ông phải có nghĩa vụ bảo đảm an toàn cho công trình liền kề.

Căn cứ pháp lý trích dẫn:

Theo Điều 174 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng:

“Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh.”

Đồng thời, theo Khoản 2 và Khoản 3 Điều 177 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Bảo đảm an toàn trong trường hợp công trình có nguy cơ gây thiệt hại:

“2. Khi đào giếng, đào ao hoặc xây dựng công trình dưới mặt đất, chủ sở hữu công trình phải đào, xây cách mốc giới một khoảng cách do pháp luật về xây dựng quy định.

3. Trường hợp gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì chủ sở hữu cây cối, công trình phải bồi thường.”

Và theo Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”

Phân tích pháp lý chuyên sâu và giải thích chi tiết:

Nhiều người dân ở nông thôn thường có tư tưởng sai lầm: “Đất tôi tôi làm gì kệ tôi”. Pháp luật quy định quyền sở hữu và sử dụng tài sản của mỗi cá nhân luôn bị giới hạn bởi quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Căn cứ Điều 174 Bộ luật Dân sự 2015, bất kỳ công trình nào khi xây dựng hay đào đắp dưới mặt đất đều phải bảo đảm an toàn và không được xâm phạm đến bất động sản liền kề.

Vi phạm khoảng cách và nghĩa vụ bồi thường của ông B

Vi phạm quy chuẩn đào ngầm: Căn cứ Khoản 2 Điều 177 Bộ luật Dân sự 2015, việc ông B đào giếng sát ranh giới đất mà không giữ khoảng cách an toàn, không có biện pháp gia cố chống sạt lở là hành vi vi phạm pháp luật.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ Khoản 3 Điều 177 và Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, việc đào giếng làm hỏng bờ tường rào nhà ông A đã phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản. Ông B có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ chi phí gia cố, chống sụt lún cũng như chi phí tháo dỡ và xây lại bờ tường rào bị hư hỏng.

3 – Góc nhìn Tâm lý – Giáo dục – Quản trị – “Chìa khóa nhân văn”

Góc nhìn tâm lý: Cái “tôi” nông thôn và nỗi sợ mất mát tài sản

Hộ ông A (Bên bị thiệt hại): Trạng thái tâm lý chủ đạo là bức xúc và xót xa cho tài sản. Bờ tường rào kiên cố là thành quả tích góp, việc nó bị nứt toác và nghiêng sụt tạo ra tâm lý tổn thất kinh tế. Thái độ chối bỏ trách nhiệm của ông B làm tổn thương lòng tự trọng, khiến ông A đẩy tranh chấp thành cuộc chiến “đòi lại lẽ phải”.

Hộ ông B (Bên gây thiệt hại): Ban đầu chỉ muốn đào giếng lấy nước tưới tiêu. Khi sự cố xảy ra, nỗi sợ bồi thường khoản tiền lớn khiến ông B rơi vào cơ chế tự vệ tiêu cực: gạt phắt trách nhiệm, ngụy biện “đào trên đất nhà mình” để che đậy sự bất an và cố chấp.

Giáo dục & Quản trị: Xung đột xây dựng nông thôn và lỗ hổng quản trị rủi ro

Thiếu hiểu biết kỹ thuật và quy tắc ứng xử: Trong xây dựng nông thôn, thói quen làm theo kinh nghiệm cảm tính khá phổ biến. Người dân chưa ý thức được việc tác động vào địa chất ngầm sát ranh đất sẽ trực tiếp rút chân móng công trình nhà hàng xóm.

Lỗ hổng quản trị rủi ro tại địa phương: Việc thi công các công trình đào ngầm tự phát thiếu sự khảo sát hiện trạng xung quanh. Khi sự cố xảy ra, các bên thiếu kỹ năng ghi nhận hiện trường và xử lý kỹ thuật ban đầu, dẫn đến tranh chấp kéo dài.

4 – Giải pháp toàn diện của Chuyên gia Nguyễn Hữu Long

Để giải quyết triệt để xung đột, ưu tiên hòa giải “thấu tình đạt lý” trước khi đưa ra cơ quan pháp luật, Chuyên gia Nguyễn Hữu Long đề xuất quy trình xử lý 3 bước chuẩn mực:

Bước 1 – Lập biên bản hiện trường khẩn cấp và áp dụng biện pháp kỹ thuật đổ bê tông chống sụt lún:

Lập biên bản hiện trường: Mời đại diện Ban hòa giải thôn/xã xuống ghi nhận thực địa. Biên bản mô tả rõ vị trí giếng đào, đường kính, khoảng cách tới ranh đất, các vết nứt và độ nghiêng sụt của bờ tường rào (kèm hình ảnh, video làm bằng chứng).

Kỹ năng xử lý kỹ thuật khẩn cấp: Yêu cầu ông B ngừng ngay việc đào sâu. Phối hợp lực lượng thợ xây tiến hành bơm đổ bê tông/phụt vữa gia cố chân móng hoặc lấp cát đá gia tải hố giếng để chặn đứng đà sạt lở đất ngầm, bảo vệ an toàn cho bờ tường rào.

Bước 2 – Tổ chức đối thoại hòa giải trên tinh thần “Tình làng nghĩa xóm”: Chuyên gia trực tiếp đứng ra điều phối cuộc hòa giải giữa hai gia đình: Phân tích tâm lý & pháp lý: Phân tích cho ông B hiểu nếu đưa ra Tòa án, căn cứ Điều 174 và Điều 177 Bộ luật Dân sự 2015, ông B chắc chắn phải bồi thường toàn bộ thiệt hại và gánh chịu thêm án phí, chi phí giám định. Phương án thấu tình đạt lý:

Ông B nhận trách nhiệm, chi trả toàn bộ chi phí vật tư và nhân công để khôi phục lại bờ tường rào cho ông A.

Ông A thông cảm, hỗ trợ tạo điều kiện để ông B lấp hố giếng cũ và chọn vị trí đào giếng mới cách xa ranh đất đúng quy chuẩn.

Bước 3 – Cam kết văn bản và nghiệm thu khắc phục: Hai bên ký Biên bản thỏa thuận hòa giải thành có xác nhận của UBND xã B. Văn bản quy định chi tiết tiến độ gia cố chống sụt lún, thời hạn hoàn thành sửa chữa tường rào và cam kết không khiếu kiện kéo dài.

GÓC NHÌN CHUYÊN GIA: Bài viết được xây dựng dưới sự tham vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục. Chúng tôi chuyên cung cấp các giải pháp tư vấn quản trị rủi ro đất đai xây dựng, xử lý xung đột tranh chấp ranh giới nông thôn, lập biên bản sự cố công trình và hòa giải dân sự chuyên nghiệp. Mọi nhu cầu hỗ trợ xin liên hệ qua website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc hotline: 0898.627.762.

Từ khóa: Bộ luật Dân sự 2015; Tư vấn pháp luật; Giải quyết tranh chấp.

Để lại một bình luận