THÔNG TƯ 89/2026/TT-BQP: NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP TRONG BỘ QUỐC PHÒNG – GIÁM ĐỊNH VIÊN, LĨNH VỰC GIÁM ĐỊNH VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN CẦN BIẾT

THÔNG TƯ 89/2026/TT-BQP: NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP TRONG BỘ QUỐC PHÒNG – GIÁM ĐỊNH VIÊN, LĨNH VỰC GIÁM ĐỊNH VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN CẦN BIẾT

PHẦN 1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VÀ QUY ĐỊNH VỀ GIÁM ĐỊNH VIÊN TƯ PHÁP TRONG BỘ QUỐC PHÒNG

  1. Giám định tư pháp trong Bộ Quốc phòng được quy định như thế nào?

Trong quá trình giải quyết các vụ việc, vụ án, có những vấn đề đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn sâu mới có thể xác định chính xác tình tiết liên quan. Khi đó, hoạt động giám định tư pháp có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi kết luận của người giám định có thể trở thành nguồn chứng cứ phục vụ việc giải quyết vụ việc, vụ án theo quy định pháp luật.

Nhằm quy định cụ thể việc tổ chức và thực hiện hoạt động giám định tư pháp trong phạm vi Bộ Quốc phòng, ngày 22/6/2026, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư số 89/2026/TT-BQP quy định về giám định tư pháp trong Bộ Quốc phòng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/5/2026.

Thông tư không chỉ quy định về người trực tiếp thực hiện giám định mà còn thiết lập các quy định liên quan đến tổ chức giám định, việc bổ nhiệm và quản lý giám định viên, tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu giám định và các chính sách hỗ trợ đối với người làm công tác giám định.

Nói một cách dễ hiểu, Thông tư 89/2026/TT-BQP tạo ra khuôn khổ để hoạt động giám định tư pháp trong Bộ Quốc phòng được thực hiện đúng người, đúng chuyên môn và đúng trình tự.

  1. Những ai thuộc phạm vi áp dụng của Thông tư?

Theo Điều 2, Thông tư áp dụng đối với nhiều nhóm chủ thể có liên quan đến hoạt động giám định tư pháp trong Bộ Quốc phòng, trong đó có:

  • Tổ chức giám định tư pháp công lập;
  • Tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc;
  • Người giám định tư pháp;
  • Người giúp việc cho người giám định tư pháp;
  • Cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan đến việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bổ nhiệm lại và quản lý giám định viên;
  • Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp.

Ví dụ dễ hiểu

Một vụ việc trong Quân đội phát sinh vấn đề cần xác định dấu vết, tài liệu, súng đạn hoặc những vấn đề thuộc chuyên môn pháp y. Khi đó, các cơ quan có thẩm quyền có thể thực hiện việc trưng cầu giám định tại các tổ chức, người giám định thuộc phạm vi được Thông tư điều chỉnh.

Như vậy, Thông tư không chỉ liên quan đến giám định viên, mà còn liên quan đến các cơ quan, đơn vị và cá nhân tham gia vào quá trình trưng cầu, yêu cầu và quản lý hoạt động giám định.

  1. Ai có thể trở thành giám định viên tư pháp trong Bộ Quốc phòng?

Đây là một trong những nội dung quan trọng được quy định ngay tại Chương II của Thông tư.

Theo Điều 3, đối với lĩnh vực giám định pháp y, giám định viên tư pháp phải là sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn theo Luật Giám định tư pháp và các tiêu chuẩn chung đối với giám định viên trong lĩnh vực pháp y do Bộ Y tế ban hành.

Đối với lĩnh vực giám định kỹ thuật hình sự, người được bổ nhiệm cũng phải là sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn theo Luật Giám định tư pháp và tiêu chuẩn chung đối với giám định viên trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự do Bộ Công an ban hành.

Hiểu đơn giản

Không phải cứ có kiến thức chuyên môn là có thể trở thành giám định viên tư pháp trong Bộ Quốc phòng.

Người được bổ nhiệm phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu về tư cách, chuyên môn và tiêu chuẩn pháp luật, trong đó Thông tư xác định đối tượng giám định viên ở hai lĩnh vực này là sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ví dụ

Một sĩ quan có trình độ chuyên môn phù hợp với lĩnh vực pháp y nhưng chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo Luật Giám định tư pháp thì chưa đủ điều kiện để được bổ nhiệm làm giám định viên tư pháp.

Quy định này nhằm bảo đảm người thực hiện giám định phải có năng lực chuyên môn và đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp luật trước khi tham gia vào hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vụ việc, vụ án.

  1. Ai có trách nhiệm lựa chọn và đề nghị bổ nhiệm giám định viên?

Thông tư phân định trách nhiệm khá rõ giữa các cơ quan quản lý.

Đối với giám định pháp y

Thủ trưởng Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật có trách nhiệm lựa chọn người đáp ứng đủ tiêu chuẩn; rà soát các trường hợp cần miễn nhiệm hoặc có đủ điều kiện bổ nhiệm lại; lập hồ sơ và đề nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bổ nhiệm lại giám định viên pháp y đối với cán bộ thuộc Viện Pháp y Quân đội.

Đối với giám định kỹ thuật hình sự

Thủ trưởng Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng thực hiện việc lựa chọn người đủ tiêu chuẩn, rà soát các trường hợp miễn nhiệm, bổ nhiệm lại và lập hồ sơ đề nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định đối với cán bộ thuộc Phòng Giám định kỹ thuật hình sự Bộ Quốc phòng.

Điểm đáng chú ý

Việc bổ nhiệm không phải là quyết định tùy ý của đơn vị. Quy trình được phân công cụ thể, trong đó cơ quan quản lý chuyên môn có trách nhiệm lựa chọn, rà soát và lập hồ sơ, còn Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là người ra quyết định theo quy định được Thông tư dẫn chiếu.

  1. Danh sách giám định viên phải được công khai, cập nhật

Một điểm đáng chú ý khác là sau khi có quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bổ nhiệm lại, cơ quan có trách nhiệm phải lập danh sách giám định viên.

Theo Thông tư, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định, Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật và Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng phải lập danh sách gửi Văn phòng Bộ Quốc phòng để đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng; đồng thời cập nhật vào danh sách chung về người giám định tư pháp trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

Vì sao quy định này quan trọng?

Việc công bố và cập nhật danh sách giúp hoạt động giám định được minh bạch hơn, đồng thời tạo cơ sở để các cơ quan có liên quan xác định người đang được công nhận, bổ nhiệm và có thẩm quyền thực hiện giám định.

Có thể hiểu đơn giản:

Bổ nhiệm → lập danh sách → công khai, cập nhật.

Đây là một quy trình giúp hạn chế tình trạng không rõ người nào đang có tư cách giám định viên tư pháp.

  1. Thẻ giám định viên tư pháp được cấp như thế nào?

Bên cạnh quyết định bổ nhiệm, giám định viên tư pháp còn được quản lý thông qua thẻ giám định viên tư pháp.

Thông tư quy định trách nhiệm tham mưu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong việc cấp, cấp lại hoặc thu hồi thẻ đối với giám định viên thuộc từng lĩnh vực quản lý.

Cụ thể, đối với giám định viên pháp y, Thủ trưởng Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật tham mưu thực hiện việc cấp, cấp lại hoặc thu hồi thẻ khi có các quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bổ nhiệm lại.

Đối với giám định viên kỹ thuật hình sự, trách nhiệm này thuộc Thủ trưởng Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng.

Có thể hiểu như sau:

Quyết định bổ nhiệm xác lập tư cách giám định viên theo quy định.

Thẻ giám định viên là một trong những giấy tờ gắn với việc quản lý, thực hiện tư cách giám định viên.

Do đó, khi có thay đổi về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bổ nhiệm lại thì vấn đề về thẻ cũng phải được xử lý tương ứng.

  1. Không chỉ có giám định viên chuyên trách – còn có người giám định theo vụ việc

Thông tư cũng quy định về tổ chức, người giám định tư pháp theo vụ việc trong Bộ Quốc phòng.

Căn cứ nhu cầu thực tế của hoạt động tố tụng, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng có trách nhiệm rà soát tổ chức, cá nhân đáp ứng tiêu chuẩn và lập hồ sơ đề nghị công nhận. Hồ sơ được gửi đến Văn phòng Bộ Quốc phòng để phối hợp kiểm tra, trình Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định công nhận.

Đáng chú ý, tổ chức hoặc người giám định tư pháp theo vụ việc chỉ được đề nghị công nhận khi thực hiện giám định những vụ việc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao.

Ví dụ

Một đơn vị có cán bộ sở hữu chuyên môn đặc biệt phù hợp với một lĩnh vực giám định nhưng người này không hoạt động như một giám định viên chuyên trách. Nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, người đó có thể được xem xét công nhận là người giám định tư pháp theo vụ việc.

Điều này giúp huy động nguồn nhân lực chuyên môn phù hợp khi vụ việc phát sinh yêu cầu giám định đặc thù.

  1. Khi nào việc công nhận tổ chức, người giám định theo vụ việc có thể bị hủy bỏ?

Việc công nhận không phải là công nhận vĩnh viễn trong mọi trường hợp.

Thông tư quy định cơ quan, đơn vị quản lý phải rà soát những trường hợp thuộc diện hủy bỏ công nhận theo Luật Giám định tư pháp, lập hồ sơ và gửi Văn phòng Bộ Quốc phòng. Sau đó, Văn phòng Bộ Quốc phòng phối hợp kiểm tra hồ sơ và đề nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định.

Sau khi có quyết định hủy bỏ công nhận, danh sách cũng phải được cập nhật.

Điều này thể hiện nguyên tắc quan trọng:

Được công nhận phải đi đôi với việc đáp ứng điều kiện và duy trì trách nhiệm trong hoạt động giám định.

  1. Người dân và cơ quan, đơn vị cần lưu ý gì?

Mặc dù Thông tư chủ yếu điều chỉnh hoạt động chuyên môn trong Bộ Quốc phòng, nhưng các quy định này có ý nghĩa trực tiếp đối với những cá nhân, cơ quan có liên quan đến hoạt động trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp.

Khi phát sinh nhu cầu giám định, cần đặc biệt lưu ý:

Thứ nhất, việc giám định phải được thực hiện bởi tổ chức hoặc người có đủ điều kiện, thẩm quyền theo quy định.

Thứ hai, cần xác định đúng lĩnh vực, chuyên môn cần giám định để việc trưng cầu, yêu cầu được thực hiện phù hợp.

Thứ ba, cần kiểm tra, xác định tổ chức hoặc người giám định có thuộc danh sách được công nhận, công bố theo quy định hay không.

Thứ tư, hoạt động giám định phải được thực hiện trong phạm vi chuyên môn và chức năng, nhiệm vụ được giao.

  1. Thông điệp tuyên truyền

Thông tư số 89/2026/TT-BQP không chỉ quy định về “ai được làm giám định viên”, mà còn xây dựng một cơ chế quản lý tương đối đầy đủ từ tiêu chuẩn – bổ nhiệm – cấp thẻ – công nhận tổ chức, người giám định theo vụ việc – công khai danh sách – quản lý hồ sơ.

Mục tiêu quan trọng là bảo đảm hoạt động giám định tư pháp trong Bộ Quốc phòng được thực hiện bởi đúng người, đúng chuyên môn, đúng thẩm quyền, qua đó góp phần bảo đảm tính khách quan, chính xác trong quá trình giải quyết các vụ việc, vụ án.

Hiểu đúng quy định về giám định tư pháp chính là góp phần bảo đảm mỗi kết luận chuyên môn được đưa ra có căn cứ, có trách nhiệm và đúng quy định pháp luật.

PHẦN 2. GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP ĐƯỢC THỰC HIỆN TRONG NHỮNG LĨNH VỰC NÀO? TIẾP NHẬN TRƯNG CẦU VÀ THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG GIÁM ĐỊNH RA SAO?

Sau khi làm rõ ai được thực hiện giám định tư pháp trong Bộ Quốc phòng, một vấn đề quan trọng tiếp theo là: Bộ Quốc phòng thực hiện giám định trong những lĩnh vực nào? Khi có yêu cầu giám định thì cơ quan nào tiếp nhận? Và trong trường hợp cần thiết, Hội đồng giám định tư pháp được thành lập như thế nào?

Thông tư số 89/2026/TT-BQP dành Chương III để quy định cụ thể những nội dung này, qua đó tạo cơ sở để hoạt động giám định được thực hiện đúng phạm vi chuyên môn, đúng cơ quan và đúng quy trình.

  1. Những lĩnh vực giám định tư pháp nào được thực hiện trong Bộ Quốc phòng?

Theo Điều 10, hoạt động giám định tư pháp trong Bộ Quốc phòng được quy định trong hai nhóm lĩnh vực chính: giám định pháp y và giám định kỹ thuật hình sự. Mỗi lĩnh vực lại bao gồm những chuyên ngành cụ thể.

Thứ nhất, lĩnh vực giám định pháp y

Trong Bộ Quốc phòng, lĩnh vực giám định pháp y gồm 3 chuyên ngành:

  • Giám định về pháp y;
  • Giám định về độc chất;
  • Giám định về y sinh.

Có thể hiểu đơn giản, đây là nhóm chuyên môn liên quan đến việc sử dụng kiến thức y học, sinh học và các chuyên môn liên quan để làm rõ những vấn đề cần thiết trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án.

Ví dụ

Trong một vụ việc phát sinh trong Quân đội, cơ quan có thẩm quyền cần làm rõ một vấn đề thuộc chuyên môn pháp y hoặc cần xác định yếu tố liên quan đến độc chất. Khi đó, việc giám định có thể được thực hiện trong phạm vi chuyên ngành tương ứng nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật.

  1. Giám định kỹ thuật hình sự gồm những chuyên ngành nào?

Đây là nhóm lĩnh vực có phạm vi chuyên môn khá rộng.

Theo Thông tư, giám định kỹ thuật hình sự trong Bộ Quốc phòng bao gồm:

  1. Giám định về dấu vết đường vân;
  2. Giám định về dấu vết cơ học;
  3. Giám định về súng, đạn;
  4. Giám định về tài liệu;
  5. Giám định về cháy, nổ;
  6. Giám định về kỹ thuật;
  7. Giám định về âm thanh;
  8. Giám định về hóa học;
  9. Giám định về kỹ thuật số và điện tử.

Như vậy, hoạt động giám định kỹ thuật hình sự không chỉ liên quan đến những dấu vết vật chất truyền thống mà còn bao gồm những lĩnh vực có tính chuyên môn cao như kỹ thuật số và điện tử.

Vì sao việc quy định cụ thể các chuyên ngành lại quan trọng?

Bởi giám định tư pháp là hoạt động đòi hỏi chuyên môn sâu. Việc xác định rõ từng lĩnh vực, chuyên ngành giúp cơ quan có thẩm quyền lựa chọn đúng người, đúng chuyên môn và đúng phạm vi giám định.

Ví dụ, nếu vụ việc cần làm rõ một vấn đề liên quan đến tài liệu thì phải xác định đúng chuyên ngành giám định tài liệu; nếu vấn đề liên quan đến dấu vết đường vân thì phải lựa chọn chuyên môn tương ứng.

Không phải một giám định viên có thể mặc nhiên thực hiện mọi loại giám định. Việc thực hiện phải phù hợp với chuyên môn và phạm vi được giao.

  1. Khi có quyết định trưng cầu hoặc yêu cầu giám định thì cơ quan nào tiếp nhận?

Theo Điều 11, Viện Pháp y Quân đội, Phòng Giám định kỹ thuật hình sự Bộ Quốc phòng, tổ chức và người giám định tư pháp theo vụ việc trong Bộ Quốc phòng có trách nhiệm tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu giám định đối với các quyết định trưng cầu, yêu cầu giám định của người trưng cầu giám định tư pháp trong Quân đội.

Tuy nhiên, quy định này có ngoại lệ: việc tiếp nhận không áp dụng trong trường hợp thuộc diện được từ chối thực hiện giám định theo Điều 38 Luật Giám định tư pháp.

Hiểu đơn giản

Khi cơ quan có thẩm quyền trong Quân đội ban hành quyết định trưng cầu giám định, việc tiếp nhận không được thực hiện tùy tiện mà phải thuộc đúng cơ quan, tổ chức hoặc người giám định có chức năng, chuyên môn phù hợp.

Điều này giúp bảo đảm rằng yêu cầu giám định được chuyển đến đúng nơi có năng lực chuyên môn để thực hiện.

  1. Có phải mọi yêu cầu giám định đều bắt buộc phải tiếp nhận?

Không phải trong mọi trường hợp đều phải thực hiện giám định.

Thông tư quy định việc tiếp nhận phải tuân theo quy định của Luật Giám định tư pháp, trong đó có trường hợp được từ chối thực hiện giám định theo Điều 38 của Luật số 105/2025/QH15.

Đặc biệt, nếu từ chối tiếp nhận hoặc thực hiện giám định theo quy định, tổ chức, cá nhân được trưng cầu phải ban hành văn bản và nêu rõ lý do từ chối trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận quyết định trưng cầu hoặc văn bản yêu cầu giám định.

Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý

Việc từ chối không thể chỉ được thực hiện bằng cách trả lời miệng hoặc không tiếp nhận hồ sơ.

Khi thuộc trường hợp từ chối theo luật, phải:

Có căn cứ → từ chối → bằng văn bản → nêu rõ lý do → trong thời hạn 05 ngày làm việc.

Quy định này góp phần làm cho quá trình trưng cầu, yêu cầu giám định trở nên minh bạch và có căn cứ rõ ràng hơn.

  1. Trường hợp trưng cầu giám định từ bên ngoài Quân đội thì sao?

Thông tư cũng quy định việc tiếp nhận giám định đối với các trưng cầu, yêu cầu giám định của người trưng cầu giám định ngoài Quân đội.

Theo đó, việc tiếp nhận được thực hiện theo quy định của khoản 2 Điều 28 Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15. Đối với yêu cầu giám định của người yêu cầu giám định tư pháp, việc tiếp nhận thực hiện theo điểm d khoản 2 Điều 28 của Luật này.

Điều này cho thấy hoạt động giám định trong Bộ Quốc phòng không chỉ được đặt trong phạm vi các vụ việc nội bộ mà còn có cơ chế xử lý đối với những trường hợp có trưng cầu, yêu cầu từ bên ngoài Quân đội theo quy định của pháp luật.

Lưu ý

Thông tư bạn cung cấp chủ yếu dẫn chiếu đến Luật Giám định tư pháp đối với điều kiện và trình tự cụ thể của các trường hợp này. Vì vậy, khi tuyên truyền, không nên tự suy diễn thêm các điều kiện mà Thông tư 89/2026/TT-BQP không quy định.

  1. Khi nào cần thành lập Hội đồng giám định tư pháp?

Trong những vụ việc có tính chất đặc biệt hoặc cần sự tham gia của nhiều chuyên gia, pháp luật có cơ chế thành lập Hội đồng giám định tư pháp.

Theo Điều 12, khi Hội đồng giám định tư pháp được thành lập trong Bộ Quốc phòng theo Điều 33 Luật Giám định tư pháp, các cơ quan có trách nhiệm sẽ tiến hành rà soát, lựa chọn người giám định tư pháp đủ điều kiện và hoàn thiện hồ sơ để đề nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Hội đồng.

Cụ thể:

Đối với lĩnh vực pháp y

Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan để rà soát, lựa chọn người giám định đủ điều kiện, hoàn thiện hồ sơ đề nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Hội đồng giám định tư pháp trong lĩnh vực pháp y.

Đối với lĩnh vực kỹ thuật hình sự

Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan để thực hiện việc rà soát, lựa chọn người giám định đủ điều kiện và hoàn thiện hồ sơ đề nghị thành lập Hội đồng trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự.

Đối với các lĩnh vực chuyên môn khác

Cơ quan, đơn vị quản lý tổ chức hoặc người giám định tư pháp theo vụ việc có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật và Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng để rà soát, lựa chọn người đủ điều kiện và hoàn thiện hồ sơ đề nghị thành lập Hội đồng trong lĩnh vực chuyên môn được trưng cầu giám định.

  1. Hội đồng giám định tư pháp hoạt động theo nguyên tắc nào?

Thông tư không quy định lại toàn bộ cơ cấu và nguyên tắc hoạt động của Hội đồng mà dẫn chiếu thực hiện theo Điều 33 và Điều 34 Nghị định số 177/2026/NĐ-CP.

Điều này có ý nghĩa quan trọng khi áp dụng: muốn xác định đầy đủ cơ cấu, nguyên tắc hoạt động của Hội đồng thì cần xem đồng thời quy định tại các văn bản được Thông tư dẫn chiếu.

Nói cách khác, Thông tư 89/2026/TT-BQP là văn bản quy định cụ thể hoạt động giám định trong Bộ Quốc phòng, nhưng không tách rời Luật Giám định tư pháp và Nghị định 177/2026/NĐ-CP.

  1. Kết luận giám định của Hội đồng phải đáp ứng yêu cầu gì?

Một nội dung rất quan trọng là kết luận của Hội đồng giám định tư pháp.

Theo Thông tư, kết luận giám định của Hội đồng giám định tư pháp trong Bộ Quốc phòng phải đáp ứng đầy đủ các quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 35 Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15.

Điều này thể hiện rằng dù được thực hiện bởi một cá nhân hay Hội đồng, kết quả giám định vẫn phải tuân thủ những yêu cầu pháp luật đặt ra đối với kết luận giám định.

Có thể ghi nhớ ngắn gọn:

Đúng lĩnh vực – đúng chuyên môn – đúng cơ quan – đúng trình tự – kết luận đúng yêu cầu pháp luật.

Đó chính là những yếu tố quan trọng bảo đảm giá trị của hoạt động giám định tư pháp.

  1. Người dân và cơ quan có liên quan cần ghi nhớ điều gì?

Qua các quy định tại Chương III, có thể rút ra một số điểm cần lưu ý:

Một là, Bộ Quốc phòng thực hiện giám định tư pháp trong hai nhóm lớn là pháp y và kỹ thuật hình sự, với các chuyên ngành cụ thể được quy định rõ.

Hai là, khi có nhu cầu giám định phải xác định đúng lĩnh vực và chuyên ngành cần giám định.

Ba là, việc tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu giám định phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Bốn là, trường hợp từ chối tiếp nhận hoặc thực hiện giám định thì phải thực hiện bằng văn bản, nêu rõ lý do và bảo đảm thời hạn 05 ngày làm việc theo quy định của Thông tư.

Năm là, trong những trường hợp cần thiết, Hội đồng giám định tư pháp được thành lập theo quy định của pháp luật và kết luận của Hội đồng phải đáp ứng các yêu cầu của Luật Giám định tư pháp.

THÔNG ĐIỆP TUYÊN TRUYỀN

Giám định tư pháp là hoạt động chuyên môn có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án. Vì vậy, việc xác định đúng chuyên ngành, lựa chọn đúng người giám định và thực hiện đúng trình tự là yếu tố không thể xem nhẹ.

Thông tư số 89/2026/TT-BQP đã quy định rõ phạm vi chuyên ngành giám định, cơ chế tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu và việc thành lập Hội đồng giám định trong Bộ Quốc phòng, góp phần bảo đảm hoạt động giám định được thực hiện chính xác, chuyên nghiệp, đúng thẩm quyền và đúng quy định pháp luật.

Hiểu đúng về giám định tư pháp – lựa chọn đúng chuyên môn – bảo đảm giá trị của kết luận giám định.

PHẦN 3. CHẾ ĐỘ HỖ TRỢ, ĐÀO TẠO, KHEN THƯỞNG VÀ QUY ĐỊNH VỀ HIỆU LỰC THI HÀNH

Sau khi quy định về đội ngũ giám định viên, các lĩnh vực giám định và việc tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu giám định, Thông tư số 89/2026/TT-BQP tiếp tục đặt ra những chính sách nhằm bảo đảm điều kiện để người giám định tư pháp thực hiện tốt nhiệm vụ.

Đây là nội dung có ý nghĩa thiết thực, bởi hoạt động giám định tư pháp đòi hỏi người thực hiện phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng và có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị để thực hiện nhiệm vụ chính xác, khách quan.

  1. Những ai được hưởng chế độ, chính sách hỗ trợ?

Theo Điều 13 Thông tư, người giám định tư pháp trong Bộ Quốc phòng được hưởng chế độ, chính sách hỗ trợ theo quy định của Luật Giám định tư pháp.

Đối tượng được hưởng gồm hai nhóm chính:

  • Giám định viên tư pháp hoạt động chuyên trách trong các tổ chức giám định tư pháp công lập thuộc Bộ Quốc phòng.
  • Người giám định tư pháp theo vụ việc hoạt động kiêm nhiệm trong các cơ quan, đơn vị khác thuộc Bộ Quốc phòng.

Hiểu đơn giản

Không chỉ những người làm giám định tư pháp chuyên trách mới được hưởng chính sách hỗ trợ. Những người được công nhận là người giám định tư pháp theo vụ việc và thực hiện nhiệm vụ theo quy định cũng thuộc đối tượng được hưởng chính sách.

Điều này thể hiện sự ghi nhận đối với trách nhiệm và yêu cầu chuyên môn của đội ngũ thực hiện hoạt động giám định tư pháp.

  1. Người giám định tư pháp được hưởng những chế độ gì?

Theo Điều 14, người giám định tư pháp trong Bộ Quốc phòng được hưởng chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp theo Quyết định số 08/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 22/2026/QĐ-TTg.

Bên cạnh đó, người giám định còn được hưởng chính sách hỗ trợ đặc thù, vượt trội cho người giám định tư pháp theo quy định tại Điều 36 Nghị định số 177/2026/NĐ-CP.

Vì sao chính sách này quan trọng?

Giám định tư pháp là công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, trách nhiệm lớn và có thể liên quan trực tiếp đến việc giải quyết các vụ việc, vụ án.

Do đó, việc bảo đảm chế độ bồi dưỡng và chính sách hỗ trợ là một trong những yếu tố góp phần thu hút, duy trì và khuyến khích đội ngũ có chuyên môn tham gia hoạt động giám định tư pháp.

Lưu ý

Thông tư 89/2026/TT-BQP không quy định cụ thể mức tiền bồi dưỡng trong điều khoản này mà dẫn chiếu đến các văn bản khác. Vì vậy, khi áp dụng thực tế cần căn cứ đúng các văn bản được Thông tư dẫn chiếu, tránh tự suy diễn về mức hưởng.

  1. Cơ quan, đơn vị phải bảo đảm điều kiện gì cho người giám định?

Một người giám định dù có chuyên môn tốt cũng khó có thể thực hiện nhiệm vụ chính xác nếu thiếu thời gian, thiết bị hoặc điều kiện làm việc cần thiết.

Vì vậy, Thông tư quy định cơ quan, đơn vị quản lý tổ chức giám định tư pháp công lập, tổ chức và người giám định tư pháp theo vụ việc trong Bộ Quốc phòng có trách nhiệm bảo đảm thời gian và các điều kiện cần thiết khác về cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí cho việc thực hiện giám định theo quy định.

Có thể hiểu ngắn gọn:

Có người giỏi → phải có điều kiện làm việc phù hợp → mới bảo đảm chất lượng giám định.

Quy định này cho thấy trách nhiệm bảo đảm chất lượng giám định không chỉ thuộc về cá nhân người giám định mà còn thuộc về cơ quan, đơn vị quản lý.

  1. Chính sách thu hút chuyên gia tham gia giám định

Một điểm đáng chú ý khác là Thông tư giao Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Cục Tài chính và các cơ quan liên quan tham mưu, đề xuất Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định các chế độ, chính sách khác để hỗ trợ người giám định tư pháp, đồng thời thu hút chuyên gia, tổ chức có năng lực tham gia hoạt động giám định tư pháp theo quy định của Luật Giám định tư pháp.

Điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh các lĩnh vực giám định ngày càng có tính chuyên sâu.

Đặc biệt với những vấn đề đòi hỏi kiến thức chuyên môn đặc biệt, việc huy động chuyên gia, tổ chức có năng lực có thể góp phần nâng cao chất lượng và độ tin cậy của hoạt động giám định.

  1. Giám định viên có được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ không?

Có.

Theo Điều 15, Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật và Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan trong việc rà soát, lựa chọn cán bộ thuộc quyền quản lý để báo cáo, trình cấp có thẩm quyền cử đi đào tạo, bồi dưỡng.

Nội dung đào tạo, bồi dưỡng không chỉ giới hạn ở chuyên môn nghiệp vụ mà còn bao gồm:

  • Chuyên môn, nghiệp vụ;
  • Ngoại ngữ;
  • Pháp luật trong nước và nước ngoài.

Việc đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện theo yêu cầu nhiệm vụ và định hướng phát triển đội ngũ giám định viên tư pháp của Bộ Quốc phòng.

Ví dụ dễ hiểu

Một giám định viên đang thực hiện công việc chuyên môn nhưng lĩnh vực giám định ngày càng xuất hiện những phương pháp, kỹ thuật mới. Cơ quan quản lý có thể rà soát nhu cầu và trình cấp có thẩm quyền cử người này đi đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực.

Như vậy, giám định viên không chỉ cần đáp ứng tiêu chuẩn tại thời điểm được bổ nhiệm mà còn phải được tạo điều kiện để thường xuyên nâng cao năng lực chuyên môn.

  1. Khi nào người giám định được xem xét khen thưởng đột xuất?

Thông tư cũng đặt ra cơ chế khen thưởng đột xuất đối với người giám định có thành tích đặc biệt xuất sắc.

Theo Điều 16, người giám định thuộc đối tượng quy định tại Điều 13 có thể được xem xét khen thưởng đột xuất khi đáp ứng các điều kiện quan trọng như:

  • Thực hiện giám định trong vụ việc, vụ án đặc biệt phức tạp;
  • Kết luận giám định là nguồn chứng cứ quyết định trong việc giải quyết thành công vụ việc, vụ án;
  • Có xác nhận của cơ quan trưng cầu hoặc yêu cầu giám định;
  • Có thành tích đặc biệt xuất sắc theo quy định của Bộ Quốc phòng.

Điều này có ý nghĩa gì?

Đây không phải là cơ chế khen thưởng tự động cho mọi hoạt động giám định.

Người giám định phải có thành tích đặc biệt xuất sắc, nhất là trong những vụ việc phức tạp và có đóng góp quan trọng vào việc giải quyết vụ việc, vụ án.

Khi có người đủ điều kiện, thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan báo cáo, trình cấp có thẩm quyền xem xét khen thưởng kịp thời.

  1. Kinh phí thực hiện các chính sách được lấy từ đâu?

Theo Điều 17, kinh phí thực hiện các chế độ, chính sách hỗ trợ người giám định tư pháp; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ giám định viên; và khen thưởng đột xuất được thực hiện theo quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng.

Như vậy, Thông tư xác định nguồn kinh phí thực hiện phải tuân thủ các quy định tài chính hiện hành, thay vì tự đặt ra một cơ chế kinh phí riêng biệt.

  1. Thông tư có hiệu lực từ khi nào?

Một nội dung rất quan trọng khi áp dụng văn bản pháp luật là xác định thời điểm có hiệu lực.

Theo Điều 18, Thông tư số 89/2026/TT-BQP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/5/2026.

Do đó, các cơ quan, đơn vị và cá nhân thuộc phạm vi áp dụng cần căn cứ thời điểm này để thực hiện các quy định của Thông tư.

  1. Giám định viên đã được bổ nhiệm trước khi Thông tư có hiệu lực thì sao?

Đây là nội dung chuyển tiếp rất đáng chú ý.

Thông tư quy định đối với giám định viên tư pháp đã được bổ nhiệm và cấp thẻ trước ngày Thông tư có hiệu lực, cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc cấp đổi thẻ giám định viên tư pháp theo quy định của Thông tư.

Tuy nhiên, nếu giám định viên chưa được cấp đổi thẻ theo quy định thì vẫn được tiếp tục thực hiện việc giám định theo quyết định trưng cầu hoặc yêu cầu giám định tư pháp cho đến khi hoàn thành việc giám định.

Hiểu đơn giản

Việc chuyển sang quy định mới không làm gián đoạn những hoạt động giám định đang được thực hiện.

Có thể ghi nhớ:

Đã được bổ nhiệm, đã có thẻ → thực hiện cấp đổi theo quy định mới.

Chưa kịp cấp đổi → vẫn được tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đang được trưng cầu, yêu cầu cho đến khi hoàn thành.

Quy định này giúp tránh tình trạng một vụ việc đang giám định phải dừng lại chỉ vì quá trình chuyển đổi sang quy định mới.

  1. Tổ chức, người giám định theo vụ việc đã được công nhận trước đây có phải làm lại hồ sơ không?

Không phải lập lại hồ sơ đề nghị công nhận.

Theo khoản 3 Điều 19, đối với tổ chức, người giám định tư pháp theo vụ việc đã được công nhận trước ngày Thông tư có hiệu lực thì không phải lập lại hồ sơ đề nghị công nhận theo Thông tư này và được tiếp tục thực hiện việc giám định theo quy định.

Đây là quy định chuyển tiếp có ý nghĩa thực tế, giúp giảm thủ tục hành chính không cần thiết và bảo đảm hoạt động giám định đang được thực hiện không bị gián đoạn.

  1. Nếu văn bản được dẫn chiếu trong Thông tư được sửa đổi thì áp dụng thế nào?

Thông tư cũng dự liệu trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật được dẫn chiếu trong Thông tư có sự thay đổi.

Theo khoản 4 Điều 19, nếu văn bản quy phạm pháp luật được dẫn chiếu áp dụng tại Thông tư được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì áp dụng văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đó.

Điều này đặc biệt đáng lưu ý bởi Thông tư 89/2026/TT-BQP dẫn chiếu đến nhiều văn bản pháp luật khác, chẳng hạn Luật Giám định tư pháp và Nghị định số 177/2026/NĐ-CP.

Do đó, khi áp dụng thực tế cần kiểm tra cả những văn bản được dẫn chiếu để bảo đảm quy định được áp dụng là quy định hiện hành.

  1. Ai chịu trách nhiệm thi hành Thông tư?

Theo Điều 20, Bộ Tổng Tham mưu, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Cục trưởng Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng cùng thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư.

Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị báo cáo về Bộ Quốc phòng, thông qua Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng, để được xem xét, hướng dẫn và giải quyết kịp thời.

  1. Ý nghĩa của Thông tư số 89/2026/TT-BQP

Có thể thấy, Thông tư số 89/2026/TT-BQP không chỉ tập trung vào việc xác định ai là giám định viên tư pháp mà còn xây dựng một cơ chế tương đối đầy đủ để bảo đảm hoạt động giám định trong Bộ Quốc phòng được vận hành thống nhất.

Từ việc lựa chọn, bổ nhiệm và quản lý giám định viên, xác định các lĩnh vực, chuyên ngành giám định, tổ chức tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu, thành lập Hội đồng giám định, cho đến việc bảo đảm chế độ, chính sách, đào tạo, bồi dưỡng và khen thưởng, các nội dung đều hướng đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ và hiệu quả hoạt động giám định.
Đặc biệt, việc quy định rõ các chính sách hỗ trợ và đào tạo cho thấy yêu cầu xây dựng đội ngũ giám định viên có chuyên môn cao, được cập nhật kiến thức thường xuyên và có đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ.

  1. THÔNG ĐIỆP KẾT THÚC

Thông tư số 89/2026/TT-BQP đã tạo cơ sở pháp lý cụ thể cho hoạt động giám định tư pháp trong Bộ Quốc phòng, từ con người, tổ chức, chuyên môn đến quy trình và chính sách hỗ trợ.

Đối với người giám định, đây là cơ sở để được bảo đảm điều kiện làm việc, đào tạo, bồi dưỡng và hưởng các chế độ theo quy định.

Đối với cơ quan, đơn vị có liên quan, đây là căn cứ để tổ chức, quản lý và thực hiện hoạt động giám định đúng thẩm quyền.

Đối với hoạt động tố tụng, việc tổ chức giám định đúng quy định góp phần bảo đảm những vấn đề chuyên môn được đánh giá một cách khách quan, chính xác và có căn cứ pháp luật.

Mỗi kết luận giám định chính xác là một mắt xích quan trọng góp phần làm sáng tỏ sự thật, bảo đảm công lý và nâng cao hiệu quả giải quyết vụ việc, vụ án.

GHI NHỚ 5 ĐIỂM QUAN TRỌNG

  1. Người giám định phải đáp ứng tiêu chuẩn và được bổ nhiệm, công nhận theo quy định.
  2. Hoạt động giám định phải đúng lĩnh vực, chuyên ngành và phạm vi được giao.
  3. Việc trưng cầu, yêu cầu và tiếp nhận giám định phải tuân thủ đúng trình tự pháp luật.
  4. Người giám định được bảo đảm chế độ hỗ trợ, đào tạo, bồi dưỡng và có thể được khen thưởng khi có thành tích đặc biệt xuất sắc.
  5. Thông tư số 89/2026/TT-BQP có hiệu lực từ 01/5/2026, đồng thời có quy định chuyển tiếp nhằm bảo đảm hoạt động giám định đang thực hiện không bị gián đoạn.

Thông điệp tuyên truyền:

“Đúng người – đúng chuyên môn – đúng trình tự – đúng pháp luật, góp phần bảo đảm chất lượng và giá trị của hoạt động giám định tư pháp.”

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Để lại một bình luận