THÔNG TƯ 42/2026/TT-BKHCN: QUY TRÌNH MỚI VỀ XÂY DỰNG, THẨM ĐỊNH VÀ PHÊ DUYỆT NHIỆM VỤ CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC
PHẦN 1. NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC ĐẶT HÀNG
- Vì sao cần có quy định về nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược?
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, việc lựa chọn đúng những nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Không phải bất kỳ đề xuất nghiên cứu nào cũng có thể trở thành nhiệm vụ công nghệ chiến lược. Những nhiệm vụ được đặt hàng cần hướng tới các vấn đề có tính cấp thiết, có tính mới, có khả năng tạo ra tác động lớn và góp phần hình thành năng lực làm chủ công nghệ, sản phẩm của quốc gia.
Thông tư số 42/2026/TT-BKHCN ngày 01/7/2026 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã quy định cụ thể trình tự, thủ tục xây dựng, thẩm định và phê duyệt nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược đặt hàng thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.
Nói một cách dễ hiểu, Thông tư tạo ra một quy trình để từ một nhu cầu, bài toán thực tiễn hoặc đề xuất công nghệ có thể được xem xét, đánh giá và lựa chọn thành nhiệm vụ công nghệ chiến lược đặt hàng.
- Nhiệm vụ công nghệ chiến lược đặt hàng phải đáp ứng những yêu cầu gì?
Đây là nội dung quan trọng mà các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học cần đặc biệt quan tâm.
Theo Thông tư, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đặt hàng phải đáp ứng 6 nhóm yêu cầu chính.
Thứ nhất, phải phù hợp với mục tiêu và tiêu chí của Chương trình quốc gia đặc biệt
Nhiệm vụ được đề xuất phải hướng tới mục tiêu của Chương trình quốc gia đặc biệt và đáp ứng các tiêu chí đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.
Điều này có nghĩa là một đề tài dù có giá trị về mặt nghiên cứu nhưng nếu không phù hợp với định hướng, mục tiêu của chương trình thì cũng không đương nhiên được xem xét là nhiệm vụ công nghệ chiến lược đặt hàng.
Ví dụ: Một nhóm nghiên cứu có ý tưởng phát triển một công nghệ mới nhưng công nghệ đó không thuộc định hướng, mục tiêu mà Chương trình quốc gia đặc biệt đặt ra thì đề xuất này cần được xem xét về sự phù hợp trước khi đi tiếp vào quy trình.
Thứ hai, phải có tính cấp thiết và tính mới
Một nhiệm vụ công nghệ chiến lược phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, đồng thời có yếu tố mới và có khả năng giải quyết một vấn đề, bài toán cụ thể của quốc gia, ngành, lĩnh vực hoặc địa phương.
Có thể hiểu đơn giản:
Không chỉ nghiên cứu cái “hay”, mà phải nghiên cứu cái “cần” và có giá trị mới.
Ví dụ: Nếu một ngành đang gặp khó khăn trong việc làm chủ một công nghệ quan trọng và phải phụ thuộc nhiều vào công nghệ bên ngoài, việc nghiên cứu, phát triển giải pháp để từng bước làm chủ công nghệ đó có thể đáp ứng yêu cầu về tính cấp thiết nếu phù hợp với các tiêu chí khác.
Thứ ba, phải có khả năng tạo tác động đột phá
Thông tư đặt ra yêu cầu nhiệm vụ phải có khả năng tạo ra tác động đột phá đối với phát triển kinh tế – xã hội, hoặc góp phần hình thành năng lực làm chủ công nghệ, sản phẩm của quốc gia.
Ngoài ra, những nhiệm vụ có tầm quan trọng đối với quốc phòng, an ninh cũng thuộc phạm vi được chú trọng.
Điểm này cho thấy nhiệm vụ công nghệ chiến lược không hướng tới những kết quả chỉ có phạm vi nhỏ, mà phải hướng đến những giá trị có ý nghĩa lớn hơn đối với đất nước.
Thứ tư, phải huy động và liên kết được các nguồn lực
Một nhiệm vụ công nghệ chiến lược không chỉ là công việc của riêng một cơ quan hay một nhóm nghiên cứu.
Thông tư yêu cầu nhiệm vụ phải có khả năng huy động nguồn lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời thúc đẩy liên kết giữa:
- Nhà nước;
- doanh nghiệp;
- viện nghiên cứu;
- cơ sở giáo dục đại học.
Ví dụ: Nhà nước đặt ra bài toán công nghệ; viện nghiên cứu đảm nhiệm nghiên cứu chuyên sâu; doanh nghiệp tham gia phát triển, thử nghiệm và đưa sản phẩm ra thị trường; cơ sở giáo dục đại học tham gia đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực.
Sự liên kết này giúp kết quả nghiên cứu không chỉ dừng lại trên giấy tờ hoặc trong phòng thí nghiệm mà có điều kiện đi vào thực tế.
Thứ năm, phải có phương án tiếp nhận và ứng dụng kết quả
Đây là một điểm rất đáng chú ý.
Một nhiệm vụ công nghệ chiến lược phải xác định được đơn vị dự kiến tiếp nhận, ứng dụng, khai thác kết quả, hoặc có phương án tiếp tục phát triển, chuyển giao, thương mại hóa, nhân rộng kết quả phù hợp với tính chất và mục tiêu của nhiệm vụ.
Nói cách khác:
Nghiên cứu phải hướng tới khả năng tạo ra giá trị thực tế.
Ví dụ: Nếu một nhiệm vụ nghiên cứu tạo ra một công nghệ mới nhưng không có phương án đưa công nghệ đó vào ứng dụng, chuyển giao hoặc tiếp tục phát triển thì đây sẽ là vấn đề cần xem xét khi đánh giá tính phù hợp của nhiệm vụ.
Thứ sáu, không được trùng lặp với nhiệm vụ đã và đang thực hiện
Một yêu cầu quan trọng khác là nhiệm vụ đề xuất không được trùng lặp với các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đã và đang thực hiện.
Quy định này nhằm hạn chế tình trạng nhiều nhiệm vụ cùng nghiên cứu một vấn đề nhưng sử dụng nguồn lực một cách trùng lặp, đồng thời giúp tập trung nguồn lực vào những bài toán thực sự cần thiết.
Vì vậy, trước khi đề xuất nhiệm vụ, việc tra cứu các nhiệm vụ có liên quan đã và đang thực hiện là rất quan trọng. Hồ sơ của Thông tư cũng dành nội dung để thể hiện kết quả tra cứu này.
- Vậy một nhiệm vụ được phê duyệt sẽ gồm những nội dung gì?
Khi được phê duyệt, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đặt hàng không chỉ có tên gọi chung chung.
Thông tư quy định nội dung phê duyệt bao gồm các vấn đề cơ bản như:
- Tên nhiệm vụ;
- Mục tiêu;
- Yêu cầu đối với sản phẩm;
- Các chỉ tiêu đánh giá;
- Phương thức tổ chức thực hiện;
- Nguồn đề xuất nhiệm vụ.
Đặc biệt, yêu cầu đối với sản phẩm phải thể hiện các chỉ tiêu, thông số kỹ thuật chủ yếu cũng như yêu cầu về số lượng, chất lượng của sản phẩm tạo ra.
Như vậy, nhiệm vụ công nghệ chiến lược được xây dựng theo hướng xác định rõ mục tiêu – xác định sản phẩm – xác định tiêu chí đánh giá – xác định phương thức thực hiện.
- Người dân, doanh nghiệp và tổ chức cần hiểu gì từ những quy định này?
Đối với người dân, có thể chưa trực tiếp tham gia vào quy trình xây dựng nhiệm vụ công nghệ chiến lược. Tuy nhiên, những quy định này có ý nghĩa lớn ở chỗ Nhà nước đang định hướng nguồn lực khoa học, công nghệ vào những vấn đề có tính cấp thiết và có khả năng tạo ra giá trị thực tế.
Đối với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức khoa học công nghệ, đây là cơ sở quan trọng để xây dựng các đề xuất phù hợp.
Một đề xuất muốn được xem xét không nên chỉ trả lời câu hỏi:
“Có thể nghiên cứu công nghệ gì?”
mà cần trả lời rõ hơn:
“Công nghệ này giải quyết vấn đề gì? Có cấp thiết không? Có điểm mới gì? Có tạo tác động lớn không? Ai sẽ sử dụng kết quả? Có khả năng chuyển giao, thương mại hóa hay nhân rộng không?”
Đây chính là tinh thần xuyên suốt của các yêu cầu mà Thông tư đặt ra đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đặt hàng.
- Thông điệp cần nhớ
Có thể khái quát 6 yêu cầu của một nhiệm vụ công nghệ chiến lược bằng công thức dễ nhớ:
PHÙ HỢP – CẤP THIẾT – ĐỘT PHÁ – LIÊN KẾT – ỨNG DỤNG – KHÔNG TRÙNG LẶP.
Một nhiệm vụ công nghệ chiến lược muốn được xem xét không chỉ cần có ý tưởng mới mà còn phải chứng minh được tính cần thiết, khả năng tạo tác động và khả năng đưa kết quả vào thực tiễn.
Đây cũng là cơ sở để việc lựa chọn nhiệm vụ được thực hiện có trọng tâm, góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
PHẦN 2. QUY TRÌNH XÂY DỰNG, THẨM ĐỊNH VÀ PHÊ DUYỆT NHIỆM VỤ CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC
Sau khi đã hiểu một nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược phải đáp ứng những yêu cầu nào, câu hỏi tiếp theo là: Một đề xuất sẽ được xem xét và phê duyệt như thế nào?
Thông tư số 42/2026/TT-BKHCN thiết lập một quy trình tương đối chặt chẽ, từ khâu kêu gọi đề xuất, tổng hợp và rà soát, đến tư vấn xây dựng, thẩm định và cuối cùng là phê duyệt nhiệm vụ.
- Bước đầu tiên: Kêu gọi đề xuất nhiệm vụ
Định kỳ hoặc khi cần thiết, bộ, ngành, địa phương sẽ thông báo kêu gọi đề xuất nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược trên cổng thông tin điện tử của mình hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Đây chính là bước để các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân biết được nhu cầu và định hướng nhiệm vụ đang được cơ quan có thẩm quyền đặt ra.
Ai có thể đề xuất?
Các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có thể gửi đề xuất nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.
Đề xuất được lập theo Biểu mẫu A1-ĐXNV-CNCL và có thể gửi thông qua:
- Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia;
- Trục liên thông văn bản quốc gia;
- Hệ thống thông tin điện tử của bộ, ngành, địa phương nếu có;
- Gửi trực tiếp;
- Hoặc thông qua dịch vụ bưu chính.
Người đề xuất đồng thời phải cam kết đồng ý để bộ, ngành, địa phương sử dụng nội dung đề xuất làm căn cứ xây dựng nhiệm vụ đặt hàng.
Ví dụ dễ hiểu
Một doanh nghiệp đang nghiên cứu một công nghệ thuộc danh mục công nghệ chiến lược và nhận thấy công nghệ này có thể giải quyết một vấn đề quan trọng của ngành.
Khi bộ, ngành, địa phương có thông báo kêu gọi đề xuất, doanh nghiệp có thể lập phiếu đề xuất theo mẫu và gửi đến cơ quan có thẩm quyền.
Tuy nhiên, gửi đề xuất không đồng nghĩa với việc đề xuất đương nhiên được phê duyệt. Đề xuất còn phải trải qua các bước tổng hợp, rà soát, tư vấn và thẩm định.
- Bước thứ hai: Tổng hợp và rà soát đề xuất
Sau khi tiếp nhận các đề xuất, bộ, ngành, địa phương tiến hành tổng hợp các đề xuất theo biểu mẫu quy định.
Một nội dung đặc biệt quan trọng là phải tra cứu các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đã và đang thực hiện có liên quan để kiểm tra khả năng trùng lặp.
Việc tra cứu được thực hiện trên Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nếu không thể tra cứu trên hệ thống, bộ, ngành, địa phương gửi văn bản đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ cung cấp thông tin.
Tại sao phải kiểm tra trùng lặp?
Bởi một nhiệm vụ công nghệ chiến lược cần tập trung nguồn lực vào những bài toán thực sự cần thiết.
Nếu hai đề xuất có mục tiêu, công nghệ, sản phẩm hoặc nội dung nghiên cứu tương đồng, việc tách thành nhiều nhiệm vụ riêng biệt có thể dẫn đến phân tán nguồn lực.
Trong trường hợp có từ hai đề xuất trở lên có nội dung trùng hoặc tương đồng, Hội đồng tư vấn có thể xem xét, lựa chọn những nội dung phù hợp để tổng hợp, hoàn thiện thành một nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đặt hàng.
- Bước thứ ba: Lựa chọn phương thức xây dựng nhiệm vụ
Sau khi có các đề xuất, người đứng đầu bộ, ngành, địa phương có thẩm quyền sẽ lựa chọn một trong hai phương thức để xây dựng nhiệm vụ đặt hàng:
Một là, thành lập Hội đồng tư vấn.
Hai là, thuê chuyên gia trong nước hoặc nước ngoài tư vấn xây dựng nhiệm vụ.
Dù lựa chọn phương thức nào thì mục tiêu cuối cùng vẫn là hoàn thiện hồ sơ nhiệm vụ có đủ căn cứ, nội dung và khả năng thực hiện.
- Nếu thành lập Hội đồng tư vấn thì Hội đồng hoạt động như thế nào?
Hội đồng tư vấn là một khâu rất quan trọng trong quá trình xây dựng nhiệm vụ.
Thông thường, Hội đồng có từ 07 đến 09 thành viên, gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các ủy viên phản biện và các ủy viên. Đối với mỗi đề xuất nhiệm vụ, có 02 thành viên làm ủy viên phản biện.
Thành viên Hội đồng có thể là:
- Nhà khoa học;
- Nhà quản lý;
- Nhà kinh doanh;
với chuyên môn, năng lực và kinh nghiệm phù hợp với ngành, lĩnh vực của đề xuất.
Tùy tính chất nhiệm vụ, Hội đồng còn có thể mời chuyên gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, sở hữu trí tuệ, kinh tế, tài chính hoặc lĩnh vực liên quan tham gia.
Điều này giúp việc đánh giá không chỉ nhìn từ góc độ nghiên cứu khoa học mà còn xem xét cả khả năng ứng dụng, kinh tế, sở hữu trí tuệ và các vấn đề liên quan.
- Hội đồng tư vấn có thể họp trực tiếp hay trực tuyến?
Có.
Thông tư cho phép Hội đồng tư vấn làm việc theo một trong ba phương thức:
- Họp trực tiếp;
- Họp trực tuyến;
- Họp trực tiếp kết hợp trực tuyến.
Tuy nhiên, phiên họp phải có ít nhất 2/3 số thành viên tham gia, đồng thời bắt buộc phải có Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch được ủy quyền và các ủy viên phản biện.
Các thành viên Hội đồng phải nghiên cứu hồ sơ, đưa ra ý kiến nhận xét và chịu trách nhiệm đối với ý kiến tư vấn của mình.
Đặc biệt, thành viên Hội đồng phải giữ bí mật thông tin, tài liệu trong hồ sơ, không được tiết lộ hoặc sử dụng ngoài phạm vi hoạt động của Hội đồng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Hội đồng tư vấn đánh giá đề xuất như thế nào?
Tại cuộc họp, Hội đồng sẽ xem xét các nội dung liên quan đến:
- Căn cứ xây dựng nhiệm vụ;
- Tính cấp thiết;
- Nguyên tắc xây dựng;
- Các yêu cầu đối với nhiệm vụ;
- Nội dung dự kiến phê duyệt.
Các thành viên đánh giá đề xuất thông qua phiếu đánh giá.
Điểm đáng chú ý là để một đề xuất được đề nghị “Thực hiện”, tất cả các nội dung trong Phiếu đánh giá phải được đánh giá “Đạt yêu cầu”.
Sau đó, kết quả đánh giá được tổng hợp và công bố tại cuộc họp. Đề xuất được đề nghị “Thực hiện” khi có trên 3/4 tổng số phiếu đánh giá “Đạt yêu cầu”.
Có thể hiểu đơn giản:
Không phải cứ có nhiều người đồng ý với ý tưởng là đủ.
Đề xuất phải đạt yêu cầu ở từng nội dung đánh giá, đồng thời phải đạt tỷ lệ phiếu cần thiết theo quy định.
- Sau khi Hội đồng tư vấn đồng ý thì đã được phê duyệt chưa?
Chưa.
Đây là điểm rất quan trọng cần phân biệt.
Hội đồng tư vấn có nhiệm vụ giúp xây dựng và kiến nghị nội dung nhiệm vụ. Sau kết quả tư vấn, bộ, ngành, địa phương tiếp tục hoàn thiện hồ sơ nhiệm vụ.
Nói cách khác, có thể hình dung quy trình gồm:
ĐỀ XUẤT → RÀ SOÁT → TƯ VẤN → HOÀN THIỆN HỒ SƠ → THẨM ĐỊNH → PHÊ DUYỆT.
Do đó, việc một đề xuất được Hội đồng tư vấn đề nghị “Thực hiện” không đồng nghĩa với việc nhiệm vụ đã chính thức được phê duyệt.
- Hồ sơ được thẩm định như thế nào?
Sau khi hồ sơ nhiệm vụ được hoàn thiện, Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ.
Nếu hồ sơ chưa đáp ứng quy định, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ có văn bản đề nghị bộ, ngành, địa phương bổ sung, hoàn thiện hồ sơ.
Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định thành lập Hội đồng tư vấn liên Bộ để thẩm định nhiệm vụ.
Hội đồng tư vấn liên Bộ có thành viên là đại diện các bộ, cơ quan liên quan và chuyên gia trong nước, nước ngoài nếu cần.
Hội đồng có trách nhiệm xem xét nhiều vấn đề, trong đó có:
- Tính phù hợp của nhiệm vụ;
- Việc xây dựng nhiệm vụ có đúng trình tự, thủ tục hay không;
- Nhiệm vụ có đáp ứng các yêu cầu của Thông tư hay không;
- Nội dung nhiệm vụ có phù hợp với nội dung dự kiến phê duyệt hay không.
- Có những kết quả thẩm định nào?
Sau khi thẩm định, nhiệm vụ có thể được kết luận theo ba hướng:
Một là: Đủ điều kiện phê duyệt
Khi đó, bộ, ngành, địa phương thực hiện việc phê duyệt nhiệm vụ.
Hai là: Đủ điều kiện nhưng cần hoàn thiện, bổ sung
Trong trường hợp này, bộ, ngành, địa phương phải tiếp thu ý kiến thẩm định, hoàn thiện nhiệm vụ rồi thực hiện phê duyệt theo quy định.
Ba là: Không đủ điều kiện phê duyệt
Khi đó, bộ, ngành, địa phương không phê duyệt nhiệm vụ.
Đây là cơ chế nhằm bảo đảm rằng chỉ những nhiệm vụ đáp ứng đầy đủ yêu cầu mới được đưa vào triển khai.
- Những mốc thời gian quan trọng cần nhớ
Thông tư quy định một số thời hạn đáng chú ý trong giai đoạn thẩm định và phê duyệt.
Thứ nhất, không quá 15 ngày làm việc kể từ khi kết thúc họp Hội đồng tư vấn liên Bộ, Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn thiện báo cáo thẩm định gửi bộ, ngành, địa phương.
Thứ hai, nếu nhiệm vụ đủ điều kiện phê duyệt, bộ, ngành, địa phương có thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận báo cáo thẩm định để phê duyệt nhiệm vụ.
Thứ ba, nếu đủ điều kiện nhưng cần hoàn thiện, bổ sung, bộ, ngành, địa phương có thời hạn không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận báo cáo thẩm định để hoàn thiện và phê duyệt nhiệm vụ.
Thứ tư, sau khi phê duyệt, trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, bộ, ngành, địa phương phải công bố công khai nhiệm vụ để tuyển chọn hoặc giao trực tiếp cho doanh nghiệp, tổ chức có đủ năng lực triển khai.
Có thể ghi nhớ bằng công thức:
15 ngày – 10 ngày – 15 ngày – 5 ngày.
Đây là những mốc thời gian quan trọng trong quy trình thẩm định, hoàn thiện, phê duyệt và công bố nhiệm vụ.
- Trường hợp nhiệm vụ do bộ, ngành, địa phương đặt hàng để Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý thì sao?
Đối với trường hợp này, sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập Tổ chuyên gia liên Bộ để rà soát, lựa chọn nhiệm vụ.
Tổ chuyên gia sẽ xem xét các vấn đề như:
- Tính hợp pháp của hồ sơ;
- Sự phù hợp với Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược;
- Tính không trùng lặp;
- Sự phù hợp với mục tiêu và tiêu chí của Chương trình quốc gia đặc biệt;
- Việc tuân thủ trình tự, thủ tục xây dựng nhiệm vụ.
Nếu Tổ chuyên gia liên Bộ kết luận nhiệm vụ đủ điều kiện phê duyệt, trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét, phê duyệt nội dung nhiệm vụ.
Sau đó, trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày phê duyệt, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố nhiệm vụ trên Nền tảng số quản lý nhiệm vụ và Cổng thông tin điện tử của Bộ để tuyển chọn hoặc giao trực tiếp cho tổ chức, doanh nghiệp đủ năng lực.
- Người xem cần nhớ gì sau Phần 2?
Toàn bộ quy trình có thể hiểu ngắn gọn như sau:
BƯỚC 1: Bộ, ngành, địa phương kêu gọi đề xuất.
BƯỚC 2: Tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân gửi đề xuất.
BƯỚC 3: Bộ, ngành, địa phương tổng hợp và kiểm tra trùng lặp.
BƯỚC 4: Lựa chọn Hội đồng tư vấn hoặc thuê chuyên gia để xây dựng nhiệm vụ.
BƯỚC 5: Hoàn thiện hồ sơ nhiệm vụ.
BƯỚC 6: Bộ Khoa học và Công nghệ kiểm tra hồ sơ và tổ chức thẩm định theo trường hợp tương ứng.
BƯỚC 7: Kết luận nhiệm vụ đủ điều kiện, cần bổ sung hoặc không đủ điều kiện.
BƯỚC 8: Phê duyệt nhiệm vụ.
BƯỚC 9: Công bố công khai để tuyển chọn hoặc giao trực tiếp cho tổ chức, doanh nghiệp có đủ năng lực thực hiện.
Như vậy, quy trình được thiết kế theo hướng nhiều tầng kiểm tra và đánh giá, nhằm bảo đảm nhiệm vụ được lựa chọn có cơ sở khoa học, có tính khả thi, phù hợp với định hướng công nghệ chiến lược và có khả năng tạo ra kết quả thực tế.
PHẦN 3. NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý KHI ĐỀ XUẤT VÀ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC
Sau khi nắm được quy trình xây dựng, thẩm định và phê duyệt, các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân cần đặc biệt lưu ý một vấn đề: chuẩn bị hồ sơ như thế nào để đề xuất có đầy đủ căn cứ, đúng quy định và có khả năng được xem xét?
- Hồ sơ đề xuất cần chuẩn bị những gì?
Thông tư số 42/2026/TT-BKHCN quy định hệ thống biểu mẫu tương đối cụ thể cho từng giai đoạn.
Ngay từ bước đề xuất, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng Phiếu đề xuất nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược theo Biểu mẫu A1-ĐXNV-CNCL.
Trong phiếu này cần thể hiện những thông tin cơ bản như:
- Tên nhiệm vụ;
- Tổ chức, cá nhân đề xuất;
- Thời gian thực hiện dự kiến;
- Tổng kinh phí dự kiến;
- Cơ cấu nguồn vốn;
- Căn cứ xây dựng nhiệm vụ;
- Công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược có liên quan;
- Tính cấp thiết;
- Các nội dung chuyên môn của đề xuất.
Đặc biệt, tên nhiệm vụ phải ngắn gọn nhưng thể hiện rõ đối tượng công nghệ hoặc sản phẩm chính.
Hiểu đơn giản:
Một đề xuất tốt không nên chỉ viết:
“Nghiên cứu phát triển công nghệ mới”.
Mà phải thể hiện rõ nghiên cứu công nghệ gì, nhằm tạo ra sản phẩm gì và giải quyết vấn đề nào.
- Phải chứng minh được tính cấp thiết của nhiệm vụ
Một trong những nội dung quan trọng của hồ sơ là tính cấp thiết.
Người đề xuất cần làm rõ tại sao nhiệm vụ cần được thực hiện, vấn đề thực tế nào đang đặt ra và việc thực hiện nhiệm vụ có ý nghĩa như thế nào đối với ngành, lĩnh vực hoặc mục tiêu phát triển công nghệ chiến lược.
Đây cũng là cách để cơ quan có thẩm quyền phân biệt giữa một ý tưởng nghiên cứu thông thường với một nhiệm vụ thực sự cần thiết để đưa vào chương trình.
Ví dụ:
Nếu một doanh nghiệp đề xuất nghiên cứu một công nghệ mới nhưng không chứng minh được công nghệ đó giải quyết vấn đề thực tế nào, không có nhu cầu ứng dụng hoặc không gắn với định hướng công nghệ chiến lược thì đề xuất sẽ khó đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Ngược lại, nếu hồ sơ chỉ rõ vấn đề đang tồn tại – nhu cầu cấp thiết – công nghệ cần làm chủ – sản phẩm dự kiến – khả năng ứng dụng, thì cơ sở đánh giá sẽ rõ ràng hơn.
- Đừng bỏ qua việc tra cứu nhiệm vụ đã và đang thực hiện
Một lỗi cần đặc biệt tránh là đề xuất nhiệm vụ nhưng không kiểm tra xem nội dung tương tự đã được thực hiện hay chưa.
Thông tư yêu cầu có Kết quả tra cứu thông tin về các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đã và đang thực hiện có liên quan theo Biểu mẫu A3-KQTrC-CNCL.
Việc này giúp chứng minh rằng nhiệm vụ đề xuất có tính riêng biệt, hạn chế sự trùng lặp và sử dụng nguồn lực hiệu quả.
Người đề xuất nên nhớ:
Trước khi đề xuất → phải tra cứu.
Khi phát hiện nội dung tương đồng → phải rà soát, phân biệt hoặc tổng hợp phù hợp.
Không nên mặc định rằng một ý tưởng mới đối với người đề xuất cũng đồng nghĩa với việc đó là một nhiệm vụ hoàn toàn mới.
- Hồ sơ phải thể hiện rõ sản phẩm và khả năng ứng dụng
Một nhiệm vụ công nghệ chiến lược không chỉ quan tâm đến quá trình nghiên cứu mà còn phải xác định được kết quả đầu ra.
Nội dung phê duyệt nhiệm vụ bao gồm tên nhiệm vụ, mục tiêu, yêu cầu đối với sản phẩm, các chỉ tiêu đánh giá, phương thức tổ chức thực hiện và nguồn đề xuất.
Vì vậy, khi xây dựng hồ sơ cần suy nghĩ theo hướng:
Nghiên cứu để tạo ra sản phẩm gì?
Sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn, thông số nào?
Ai có thể tiếp nhận và sử dụng?
Có khả năng tiếp tục phát triển, chuyển giao hoặc thương mại hóa hay không?
Đây chính là cách biến một ý tưởng nghiên cứu thành một nhiệm vụ có mục tiêu và kết quả đầu ra cụ thể.
- Trách nhiệm không chỉ thuộc về cơ quan quản lý
Thông tư quy định trách nhiệm thi hành đối với nhiều chủ thể, trong đó có Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân liên quan.
Điều này cho thấy quá trình xây dựng và thực hiện nhiệm vụ công nghệ chiến lược là trách nhiệm của nhiều bên.
Đối với cơ quan quản lý
Cần tổ chức việc tiếp nhận, rà soát, tư vấn, thẩm định và phê duyệt đúng trình tự; đồng thời chịu trách nhiệm đối với quyết định phê duyệt thuộc thẩm quyền.
Đối với tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đề xuất
Cần cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực, xây dựng hồ sơ có căn cứ và phối hợp cung cấp, bổ sung tài liệu khi cơ quan có thẩm quyền hoặc Hội đồng tư vấn yêu cầu.
Đối với thành viên Hội đồng, chuyên gia
Cần nghiên cứu hồ sơ, đưa ra ý kiến chuyên môn khách quan và bảo mật thông tin, tài liệu theo quy định.
Như vậy, để một nhiệm vụ được triển khai hiệu quả, mỗi chủ thể đều có một phần trách nhiệm trong toàn bộ quy trình.
- Đặc biệt lưu ý đối với thông tin, tài liệu mật
Không phải nhiệm vụ công nghệ chiến lược nào cũng có thể công khai toàn bộ thông tin.
Đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược có liên quan đến bí mật nhà nước, việc xây dựng, thẩm định và phê duyệt phải thực hiện theo Thông tư 42/2026/TT-BKHCN đồng thời tuân thủ pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Bên cạnh đó, thành viên Hội đồng tư vấn liên Bộ và Tổ chuyên gia liên Bộ cũng có trách nhiệm bảo mật thông tin, tài liệu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.
Điều cần nhớ:
Thông tin nào được xác định là bí mật nhà nước thì phải được quản lý, sử dụng và bảo vệ theo đúng quy định pháp luật.
Không được tự ý công khai, chia sẻ hoặc sử dụng thông tin ngoài phạm vi được phép.
- Những nhiệm vụ đã được xây dựng trước ngày 01/7/2026 xử lý thế nào?
Thông tư có quy định chuyển tiếp để tránh việc các nhiệm vụ đang thực hiện phải làm lại toàn bộ từ đầu.
Trường hợp 1: Đã được Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định trước ngày 01/7/2026
Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng báo cáo thẩm định theo quy định trước đây.
Trên cơ sở báo cáo thẩm định, bộ, cơ quan trung ương tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện và phê duyệt theo quy định tại Thông tư mới, đồng thời phải bảo đảm nhiệm vụ đáp ứng mục tiêu và tiêu chí của Chương trình quốc gia đặc biệt.
Trường hợp 2: Đã gửi hồ sơ trước ngày 01/7/2026 nhưng chưa thẩm định
Hồ sơ đã gửi không phải lập lại mà được tiếp tục sử dụng trong quá trình thẩm định, phê duyệt theo Thông tư mới.
Trường hợp 3: Đang xây dựng nhưng chưa gửi hồ sơ trước ngày 01/7/2026
Bộ, ngành, địa phương hoàn thiện hồ sơ theo Biểu mẫu B8-NVĐH-CNCL.
Những tài liệu đã lập trong quá trình xây dựng trước ngày 01/7/2026 không phải lập lại mà được sử dụng để hoàn thiện hồ sơ và tiếp tục phục vụ quá trình thẩm định, phê duyệt.
Quy định chuyển tiếp này giúp quá trình chuyển sang cơ chế mới được thực hiện thuận lợi hơn, tránh lãng phí thời gian và công sức đã bỏ ra trong quá trình chuẩn bị nhiệm vụ.
- Thông tư 42/2026/TT-BKHCN có hiệu lực từ khi nào?
Thông tư số 42/2026/TT-BKHCN có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026.
Đồng thời, nếu các văn bản quy phạm pháp luật được dẫn chiếu trong Thông tư được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì áp dụng theo văn bản mới đã được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế.
Các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có liên quan cần lưu ý thời điểm hiệu lực này để xác định đúng quy định áp dụng đối với hồ sơ và nhiệm vụ của mình.
- Có thể ghi nhớ toàn bộ Thông tư bằng 5 điều
Sau khi tìm hiểu toàn bộ quy trình, người xem có thể ghi nhớ 5 nội dung cốt lõi:
MỘT – ĐỀ XUẤT PHẢI ĐÚNG ĐỊNH HƯỚNG
Nhiệm vụ phải gắn với công nghệ chiến lược, mục tiêu và tiêu chí của Chương trình quốc gia đặc biệt.
HAI – PHẢI CÓ TÍNH CẤP THIẾT VÀ KHÔNG TRÙNG LẶP
Trước khi đề xuất cần xác định rõ vấn đề cần giải quyết và tra cứu nhiệm vụ liên quan đã, đang thực hiện.
BA – PHẢI XÁC ĐỊNH RÕ KẾT QUẢ ĐẦU RA
Không chỉ nói về nghiên cứu mà phải làm rõ mục tiêu, sản phẩm, chỉ tiêu đánh giá và khả năng ứng dụng.
BỐN – HỒ SƠ PHẢI ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ QUA NHIỀU KHÂU
Từ đề xuất, rà soát, tư vấn, hoàn thiện đến thẩm định và phê duyệt.
NĂM – PHẢI TUÂN THỦ TRÁCH NHIỆM VÀ BẢO MẬT
Các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và cơ quan có liên quan đều phải thực hiện đúng trách nhiệm; thông tin thuộc bí mật nhà nước phải được bảo vệ theo quy định.
KẾT LUẬN – CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC PHẢI ĐI TỪ “Ý TƯỞNG” ĐẾN “GIÁ TRỊ THỰC TIỄN”
Thông tư số 42/2026/TT-BKHCN đã xây dựng một quy trình tương đối đầy đủ cho việc hình thành nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đặt hàng: từ khâu tiếp nhận ý tưởng, lựa chọn, tư vấn, xây dựng hồ sơ, thẩm định cho đến phê duyệt và công bố nhiệm vụ.
Điểm quan trọng nhất mà các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân cần ghi nhớ là: một ý tưởng công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đặt trong đúng nhu cầu thực tiễn, có mục tiêu rõ ràng, sản phẩm cụ thể, khả năng ứng dụng và phù hợp với định hướng công nghệ chiến lược của quốc gia.
Vì vậy, khi tham gia đề xuất nhiệm vụ, hãy chuẩn bị hồ sơ một cách nghiêm túc, kiểm tra kỹ tính cấp thiết, tính mới, khả năng ứng dụng và đặc biệt là tình trạng trùng lặp với các nhiệm vụ đã, đang thực hiện.
Hiểu đúng quy định – chuẩn bị đúng hồ sơ – thực hiện đúng quy trình chính là cơ sở để các nhiệm vụ công nghệ chiến lược được lựa chọn đúng trọng tâm, sử dụng hiệu quả nguồn lực và tạo ra những kết quả có giá trị cho phát triển kinh tế – xã hội.
Thông điệp tuyên truyền:
“CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC – ĐÚNG ĐỊNH HƯỚNG, ĐÚNG QUY TRÌNH, ĐÚNG NHU CẦU, HƯỚNG TỚI GIÁ TRỊ THỰC TIỄN.”
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

