NÂNG ĐỠ DÒNG TIỀN – TIẾP SỨC DOANH NGHIỆP, HỘ KINH DOANH VÀ NGƯỜI NỘP THUẾ
Nghị định 245/2026/NĐ-CP dưới góc nhìn pháp lý, tâm lý, giáo dục và quản trị của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị
Ngày 27/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 245/2026/NĐ-CP, quy định việc gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và tiền thuê đất trong năm 2026. Nghị định có hiệu lực ngay từ ngày ký và áp dụng đến hết ngày 30/12/2026.
Điều cần hiểu đúng: đây là chính sách gia hạn thời điểm nộp, không phải chính sách miễn hay giảm thuế. Nhà nước tạo thêm thời gian để người nộp thuế giữ lại nguồn tiền trong ngắn hạn, chủ động vốn cho sản xuất, kinh doanh, duy trì việc làm và phục hồi dòng tiền; sau thời gian gia hạn, nghĩa vụ thuế vẫn phải được thực hiện đầy đủ.
I. BỐI CẢNH THỰC TẾ TỪ NGHỊ ĐỊNH 245/2026/NĐ-CP
- Trong kinh doanh, có doanh thu chưa đồng nghĩa với có dòng tiền
Một doanh nghiệp có thể có đơn hàng nhưng chưa thu được tiền.
Một hộ kinh doanh có thể bán được hàng nhưng phải trả tiền nhập hàng, tiền thuê mặt bằng, tiền lương, tiền điện, chi phí vận chuyển.
Một cơ sở sản xuất có thể có doanh thu nhưng vốn lại đang nằm trong hàng tồn kho hoặc các khoản phải thu.
Vì vậy, một trong những vấn đề lớn nhất của hoạt động sản xuất, kinh doanh không chỉ là “có kiếm được tiền hay không”, mà còn là: “Tiền có về đúng lúc để doanh nghiệp tiếp tục hoạt động hay không?”
Nghị định 245/2026/NĐ-CP được đặt trong bối cảnh đó: tạo thêm khoảng thời gian tài chính để người nộp thuế có thể sử dụng dòng tiền cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trước khi thực hiện nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước.
- Chính sách hướng đến nhiều nhóm chủ thể, không chỉ doanh nghiệp lớn
Đối tượng được áp dụng khá rộng, bao gồm doanh nghiệp, tổ chức, chi nhánh, đơn vị trực thuộc, hộ gia đình, cá nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc các ngành, lĩnh vực được quy định; đồng thời bao gồm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đáp ứng điều kiện của Nghị định.
Bởi trong nền kinh tế, doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh thường có khả năng dự phòng tài chính hạn chế. Một khoảng thời gian được gia hạn nghĩa vụ nộp thuế có thể giúp họ:
- duy trì vốn lưu động;
- trả lương cho người lao động;
- thanh toán nhà cung cấp;
- duy trì sản xuất;
- tránh đứt gãy chuỗi cung ứng;
- có thêm thời gian thu hồi công nợ.
- Chính sách được triển khai trên phạm vi ngành nghề khá rộng
Phụ lục I của Nghị định bao gồm nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; sản xuất, chế biến thực phẩm; dệt may; xây dựng; vận tải, kho bãi; lưu trú, ăn uống; giáo dục; y tế; bất động sản; du lịch; công nghệ thông tin; sản xuất công nghiệp hỗ trợ; cơ khí; sản xuất đồ uống, hóa chất và nhiều lĩnh vực khác.
Điều này cho thấy chính sách không nhằm hỗ trợ một nhóm ngành đơn lẻ mà hướng tới nhiều khu vực của nền kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát sinh nghĩa vụ thuế thuộc kỳ được gia hạn.
II. NHỮNG ĐIỂM KẾ THỪA, ĐIỂM MỚI VÀ TÁC ĐỘNG ĐA CHIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH 245/2026/NĐ-CP
Nghị định 245/2026/NĐ-CP không phải là một chính sách hoàn toàn mới, mà là sự tiếp nối của cơ chế hỗ trợ dòng tiền thông qua gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất đã được Chính phủ triển khai trong nhiều năm, tiêu biểu như Nghị định 52/2021/NĐ-CP, Nghị định 34/2022/NĐ-CP và gần nhất là Nghị định 82/2025/NĐ-CP. Nghị định 245 được ban hành ngày 27/6/2026 và có hiệu lực ngay từ ngày ký.
- Điểm kế thừa:
1.1 Kế thừa tư duy “gia hạn nghĩa vụ, không xóa nghĩa vụ”
Đây là nguyên tắc xuyên suốt của các chính sách hỗ trợ thuế: Nhà nước không miễn hoặc giảm số thuế phải nộp mà chỉ lùi thời điểm thực hiện nghĩa vụ tài chính.
Nghị định 245/2026/NĐ-CP tiếp tục kế thừa cách tiếp cận này. Sau thời gian gia hạn, người nộp thuế vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.
Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 1 và Điều 2 Nghị định 245/2026/NĐ-CP; đồng thời Điều 68 của Nghị định xác định sau thời gian gia hạn, thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất thực hiện theo pháp luật quản lý thuế.
Điểm này rất quan trọng về mặt giáo dục pháp luật: cần giúp người dân phân biệt rõ:
“Gia hạn” = được sử dụng thêm thời gian trước khi phải nộp.
“Miễn, giảm” = nghĩa vụ tài chính được loại trừ hoặc giảm theo quy định.
Nếu không phân biệt hai khái niệm này, người nộp thuế rất dễ hình thành tâm lý “được hỗ trợ nên chưa cần chuẩn bị tiền”.
1.2. Kế thừa cơ chế hỗ trợ nhiều nhóm chủ thể
Nghị định 245 tiếp tục hướng tới doanh nghiệp, tổ chức, chi nhánh, đơn vị trực thuộc, hộ gia đình, cá nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ.
Đáng chú ý, khoản 2 Điều 1 Nghị định 245/2026/NĐ-CP bổ sung cách xác định doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định 80/2021/NĐ-CP.
Đây là sự kế thừa tư duy chính sách trước đây nhưng đồng thời có sự cập nhật theo hệ thống pháp luật hiện hành.
1.3. Kế thừa nhóm sắc thuế được hỗ trợ
Nghị định 245 tiếp tục cơ chế gia hạn đối với:
- thuế GTGT;
- thuế TNDN;
- thuế TNCN của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh;
- tiền thuê đất.
Cách thiết kế này tương đồng với Nghị định 82/2025/NĐ-CP, vốn cũng áp dụng đối với thuế GTGT, TNDN, TNCN và tiền thuê đất.
1.4. Kế thừa cơ chế gia hạn 50% tiền thuê đất
Nghị định 245 tiếp tục cho gia hạn 50% số tiền thuê đất phát sinh phải nộp năm 2026, tương ứng kỳ thứ nhất, đối với trường hợp thuê đất trực tiếp của Nhà nước và trả tiền thuê hàng năm.
Cơ sở pháp lý: Điều 2 Nghị định 245/2026/NĐ-CP.
Điểm này kế thừa trực tiếp mô hình của khoản 4 Điều 4 Nghị định 82/2025/NĐ-CP, theo đó năm 2025 cũng gia hạn 50% số tiền thuê đất phải nộp kỳ thứ nhất.
1.5. Kế thừa nguyên tắc không tính tiền chậm nộp trong thời gian được gia hạn
Nghị định 245 tiếp tục bảo vệ người nộp thuế khỏi tiền chậm nộp đối với phần nghĩa vụ nằm trong thời gian được gia hạn.
Theo Điều 4 Nghị định 245/2026/NĐ-CP, nếu hệ thống quản lý thuế đã tính tiền chậm nộp đối với khoản thuộc diện được gia hạn thì cơ quan thuế thực hiện điều chỉnh, hủy phần tiền chậm nộp đã tính trong thời gian gia hạn.
Về bản chất, đây là cơ chế bảo đảm rằng chính sách hỗ trợ không bị triệt tiêu bởi một nghĩa vụ tài chính phụ phát sinh trong chính thời gian Nhà nước cho phép gia hạn.
- Điểm mới, đáng chú ý của Nghị định 245/2026/NĐ-CP
2.1. Điểm mới về thời gian áp dụng và các kỳ thuế được gia hạn
So với Nghị định 82/2025/NĐ-CP, Nghị định 245/2026/NĐ-CP chuyển sang hỗ trợ các kỳ tính thuế phát sinh trong năm 2026.
Đối với thuế GTGT, Nghị định quy định:
- tháng 5/2026: hạn nộp mới chậm nhất 20/11/2026;
- tháng 6, 7, 8, 9/2026: chậm nhất 21/12/2026;
- quý II/2026: chậm nhất 02/11/2026;
- quý III/2026: chậm nhất 30/12/2026.
Thuế GTGT ở khâu nhập khẩu không thuộc phạm vi gia hạn.
Đây là điểm cần nhấn mạnh khi tuyên truyền bởi “được gia hạn trong năm 2026” không có nghĩa là mọi khoản thuế phát sinh trong năm 2026 đều được lùi thời hạn.
2.2. Điểm mới về doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ
Nghị định 245 quy định riêng nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ tại điểm b khoản 2 Điều 1.
Việc dẫn chiếu Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định 80/2021/NĐ-CP cho thấy chính sách đã được thiết kế theo hướng nhận diện rõ hơn nhóm doanh nghiệp có khả năng chống chịu tài chính hạn chế.
Đây là điểm có ý nghĩa về chính sách công: thay vì chỉ nhìn vào quy mô doanh thu hoặc số thuế phải nộp, Nhà nước quan tâm đến khả năng chống chịu của nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
2.3. Điểm mới về việc xác định ngành nghề theo hệ thống ngành kinh tế mới
Một thay đổi đáng chú ý là Phụ lục I của Nghị định 245 xác định ngành kinh tế theo Quyết định 36/2025/QĐ-TTg về Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam.
Khoản 2 Mục II Phụ lục I còn quy định nguyên tắc xác định ngành theo cấp 1, cấp 2, cấp 3, cấp 4, cấp 5.
Đây là điểm mới có ý nghĩa thực tiễn rất lớn đối với kế toán và doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp không nên chỉ căn cứ tên gọi thương mại của hoạt động kinh doanh mà phải đối chiếu với mã ngành kinh tế tương ứng.
2.4. Điểm mới về xử lý trường hợp doanh nghiệp có nhiều ngành nghề
Nghị định 245 quy định nếu doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh hoạt động nhiều ngành kinh tế khác nhau nhưng có ít nhất một ngành thuộc danh mục tại Phụ lục I thì được gia hạn toàn bộ số thuế GTGT, TNDN, TNCN thuộc phạm vi Nghị định.
Cơ sở pháp lý: khoản 4 Điều 2 Nghị định 245/2026/NĐ-CP.
Quy định này có tác dụng giảm chi phí xác định và phân tách nghĩa vụ thuế theo từng ngành, đồng thời tạo sự rõ ràng hơn cho doanh nghiệp đa ngành.
2.5. Điểm mới về khai bổ sung làm tăng số thuế phải nộp
Nghị định 245 quy định rõ:
Nếu người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ của kỳ được gia hạn trước khi hết thời hạn gia hạn và làm tăng số thuế phải nộp thì phần tăng thêm vẫn được gia hạn.
Ngược lại, nếu khai bổ sung sau khi hết thời hạn gia hạn thì phần tăng thêm không được gia hạn.
Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 2 Nghị định 245/2026/NĐ-CP.
Đây là quy định rất đáng chú ý về quản trị tuân thủ. Nó tạo động lực cho doanh nghiệp rà soát, điều chỉnh sai sót càng sớm càng tốt, thay vì trì hoãn việc tự sửa sai.
- ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG ĐA CHIỀU
3.1. Đối với doanh nghiệp
Tác động tích cực lớn nhất là cải thiện dòng tiền ngắn hạn.
Trong quản trị tài chính, lợi nhuận kế toán và dòng tiền không phải lúc nào cũng xuất hiện đồng thời. Doanh nghiệp có thể có doanh thu nhưng tiền chưa thu được do khách hàng nợ, hàng tồn kho lớn hoặc phải thanh toán trước cho nhà cung cấp.
Khoảng thời gian được gia hạn vì vậy có thể được sử dụng để:
- duy trì vốn lưu động;
- thanh toán tiền lương;
- thanh toán nhà cung cấp;
- thu hồi công nợ;
- giảm áp lực vay vốn;
- duy trì sản xuất;
- hạn chế đứt gãy chuỗi cung ứng.
Tuy nhiên, mặt trái là rủi ro “ảo giác thanh khoản”. Tiền thuế được giữ lại có thể tạo cảm giác doanh nghiệp đang có nhiều tiền hơn thực tế.
Do đó, cần áp dụng nguyên lý quản trị vốn lưu động: tiền thuế được gia hạn phải được xem là “khoản phải trả trong tương lai”, không phải lợi nhuận.
Có thể áp dụng mô hình quản trị dòng tiền theo nguyên tắc:
Dòng tiền thực có – Nghĩa vụ thuế đến hạn – Chi phí thiết yếu = Khả năng đầu tư thực tế.
Nếu doanh nghiệp sử dụng toàn bộ phần tiền được gia hạn cho đầu tư hoặc tiêu dùng, đến thời điểm 02/11, 20/11, 21/12 hoặc 30/12/2026, doanh nghiệp có thể gặp “điểm gãy thanh khoản”.
3.2. Đối với người lao động
Tác động đối với người lao động mang tính gián tiếp nhưng rất đáng kể.
Khi doanh nghiệp giữ được dòng tiền, khả năng duy trì:
- tiền lương;
- việc làm;
- đơn hàng;
- sản xuất;
- các khoản đóng góp và phúc lợi
có thể được cải thiện.
Ở chiều ngược lại, nếu doanh nghiệp hiểu sai chính sách và coi khoản thuế được gia hạn như nguồn tiền mới, nguy cơ thiếu hụt dòng tiền vào cuối kỳ có thể dẫn đến cắt giảm lao động hoặc giảm chi phí nhân sự đột ngột.
Do đó, hiệu quả của chính sách đối với người lao động phụ thuộc không chỉ vào bản thân Nghị định mà còn vào năng lực quản trị của doanh nghiệp.
3.3. Đối với ngân sách nhà nước
Về ngắn hạn, chính sách tạo ra độ trễ trong dòng thu ngân sách.
Nhà nước không thu ngay một phần nghĩa vụ thuế, tiền thuê đất trong thời điểm đáng lẽ phải thu. Vì vậy, cơ quan quản lý ngân sách phải chủ động dự báo dòng thu và cân đối nguồn lực.
Tuy nhiên, về trung hạn, chính sách có thể tạo hiệu ứng ngược chiều tích cực: nếu doanh nghiệp duy trì hoạt động, tiếp tục sản xuất, giữ việc làm và phát sinh doanh thu, cơ sở thu ngân sách trong tương lai có thể được bảo vệ tốt hơn.
Có thể nhìn chính sách theo logic: “Giảm áp lực thu ngay” → “bảo vệ sức khỏe doanh nghiệp” → “duy trì hoạt động kinh tế” → “bảo vệ nguồn thu ngân sách tương lai”.
Như vậy, đây không đơn thuần là chi phí ngân sách mà là một công cụ điều tiết thời điểm thu ngân sách để hỗ trợ ổn định kinh tế.
3.4. Đối với nền kinh tế
Tác động tích cực có thể lan truyền theo chuỗi: Doanh nghiệp có tiền → trả lương → người lao động có thu nhập → tiêu dùng → doanh nghiệp khác có doanh thu → duy trì sản xuất → bảo vệ việc làm → duy trì nguồn thu ngân sách.
Đặc biệt, khi chính sách bao phủ các lĩnh vực như nông nghiệp, chế biến, xây dựng, vận tải, lưu trú, du lịch, giáo dục, y tế, công nghệ thông tin, công nghiệp hỗ trợ và cơ khí, tác động không chỉ nằm ở một ngành mà có thể lan sang nhiều mắt xích của chuỗi cung ứng.
III. GÓC NHÌN PHÁP LÝ TỪ NGHỊ ĐỊNH
- Cần hiểu đúng: “gia hạn” không phải “miễn thuế”
Nghị định không xóa nghĩa vụ thuế mà Nghị định chỉ cho phép người thuộc diện áp dụng được lùi thời điểm thực hiện nghĩa vụ nộp trong phạm vi và thời hạn mà Nghị định quy định.
Sau thời gian gia hạn, người nộp thuế vẫn phải nộp đầy đủ số tiền thuế, tiền thuê đất theo quy định.
Vì vậy, không nên hiểu: “Được gia hạn” = “không phải nộp”. Mà phải hiểu: “Được gia hạn” = “được thêm thời gian để chuẩn bị và thực hiện nghĩa vụ tài chính”.
- Những khoản đa dạng đáng chú ý:
2.1. Thuế giá trị gia tăng
Thời gian gia hạn nộp thuế GTGT tối đa là 05 tháng đối với số thuế thuộc phạm vi được gia hạn.
Các kỳ được quy định cụ thể:
- Thuế GTGT kỳ tháng 5/2026: chậm nhất 20/11/2026;
- Thuế GTGT kỳ tháng 6, 7, 8 và 9/2026: chậm nhất 21/12/2026;
- Thuế GTGT kỳ quý II/2026: chậm nhất 02/11/2026;
- Thuế GTGT kỳ quý III/2026: chậm nhất 30/12/2026.
Đáng lưu ý, chính sách này không áp dụng đối với thuế GTGT ở khâu nhập khẩu.
2.2. Thuế thu nhập cá nhân của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng được áp dụng có thể được gia hạn thời hạn nộp thuế TNCN tối đa 05 tháng đối với các kỳ thuộc phạm vi Nghị định.
Đây là một điểm rất thiết thực bởi hộ kinh doanh thường sử dụng chính dòng tiền kinh doanh để duy trì hoạt động hằng ngày.
2.3. Thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp
Đối với thuế TNDN tạm nộp:
- Quý II/2026 được gia hạn 03 tháng, thời hạn nộp chậm nhất 02/11/2026;
- Quý III/2026 được gia hạn 02 tháng, thời hạn nộp chậm nhất 30/12/2026.
Doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý các mốc này để tránh nhầm lẫn giữa thời hạn kê khai và thời hạn nộp số tiền thuế được gia hạn.
2.4. Tiền thuê đất
Nghị định gia hạn đối với 50% số tiền thuê đất phát sinh phải nộp năm 2026, cụ thể là số tiền thuê đất phải nộp kỳ thứ nhất năm 2026 của người đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo quyết định hoặc hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo hình thức trả tiền thuê đất hằng năm.
Thời hạn được gia hạn chậm nhất đến 02/11/2026.
IV. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ
- Góc nhìn tâm lý: Chính sách thuế cũng là chính sách tâm lý
Trong kinh doanh, áp lực tài chính kéo dài dễ dẫn đến:
- lo lắng;
- mất khả năng kiểm soát;
- quyết định kinh doanh vội vàng;
- cắt giảm nhân sự không hợp lý;
- vay nóng;
- bán tháo tài sản;
- hoặc trì hoãn các nghĩa vụ khác.
Một chính sách gia hạn thuế hợp lý có thể tạo ra “khoảng thở tài chính” cho người kinh doanh. Khoảng thời gian này có giá trị không chỉ về tiền mà còn về tâm lý, khi giảm được áp lực phải chi tiền ngay tại một thời điểm, doanh nghiệp có thêm khả năng bình tĩnh để tái cấu trúc hoạt động và lập kế hoạch tài chính.
- Không được biến “khoảng thở” thành “tâm lý chủ quan”
Từ góc nhìn tâm lý, có một rủi ro ngược lại: Được gia hạn hôm nay nhưng không chuẩn bị tiền cho ngày phải nộp. Đây là sai lầm rất dễ xảy ra.
Nếu doanh nghiệp coi tiền thuế được gia hạn như một khoản tiền “được sử dụng tự do”, đến cuối kỳ gia hạn có thể xuất hiện một cú sốc dòng tiền. Vì vậy: Gia hạn thuế phải đi cùng quản trị dòng tiền.
- Góc nhìn giáo dục: Giáo dục pháp luật phải giúp người dân “biết mình được hưởng gì và phải làm gì”
Phổ biến pháp luật không nên chỉ nói: “Chính phủ có chính sách gia hạn thuế.”
Mà cần trả lời được 5 câu hỏi:
- Ai được gia hạn?
- Khoản thuế nào được gia hạn?
- Gia hạn đến ngày nào?
- Có phải làm thủ tục gì không?
- Sau thời gian gia hạn phải làm gì?
Đây mới là cách đưa chính sách pháp luật đến gần người dân.
V. LỜI KHUYÊN VÀ GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN TỪ CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG
- Đối với doanh nghiệp: biến thời gian gia hạn thành thời gian tái cấu trúc
Tôi khuyến nghị doanh nghiệp không nên sử dụng toàn bộ nguồn tiền được giữ lại để mở rộng đầu tư hoặc tăng chi tiêu.
Hãy ưu tiên:
- bảo vệ dòng tiền.
- duy trì hoạt động cốt lõi.
- thanh toán những nghĩa vụ cấp thiết.
- thu hồi công nợ.
- kiểm soát hàng tồn kho.
- lập quỹ dự phòng cho ngày hết hạn gia hạn.
Khoản tiền được gia hạn về bản chất là nghĩa vụ tài chính được lùi thời điểm thực hiện, không phải lợi nhuận mới của doanh nghiệp.
- Đối với hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh
Hãy lập một bảng rất đơn giản: Doanh thu → chi phí → tiền thực có → thuế được gia hạn → số tiền phải nộp sau gia hạn.
Mỗi tháng nên dành riêng một phần dòng tiền để chuẩn bị cho nghĩa vụ thuế đến hạn.
Không nên dùng toàn bộ tiền được giữ lại để tiêu dùng hoặc đầu tư thiếu tính toán.
- Đối với kế toán và bộ phận tài chính
Cần lập “lịch thuế 2026” theo từng tháng, quý. Đặc biệt đánh dấu các mốc:
- 02/11/2026;
- 20/11/2026;
- 21/12/2026;
- 30/12/2026.
Đồng thời, kiểm tra xem doanh nghiệp đã:
- thuộc đúng đối tượng được gia hạn chưa;
- hoạt động trong ngành, lĩnh vực được áp dụng chưa;
- có phát sinh khoản thuế thuộc kỳ được gia hạn không;
- đã gửi Văn bản đề nghị gia hạn chưa;
- gửi đúng cơ quan thuế quản lý trực tiếp chưa.
- Đối với người đứng đầu doanh nghiệp
Đừng giao toàn bộ trách nhiệm cho kế toán.
Người đại diện theo pháp luật cần biết ít nhất: Doanh nghiệp đang được gia hạn khoản nào – bao nhiêu – đến ngày nào – và tiền ở đâu để thanh toán khi đến hạn? Đây là vấn đề quản trị chứ không đơn thuần là vấn đề kế toán.
- Đối với cơ quan tuyên truyền, chính quyền địa phương
Cần phổ biến chính sách bằng những hình thức gần gũi: “Ai được hưởng?” – “Được hưởng bao lâu?” – “Làm thủ tục ở đâu?” – “Hạn cuối là ngày nào?”
Có thể xây dựng các buổi tư vấn trực tiếp cho:
- hộ kinh doanh;
- doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ;
- hợp tác xã;
- cá nhân kinh doanh;
- doanh nghiệp sản xuất;
- doanh nghiệp sử dụng đất thuê của Nhà nước.
Đặc biệt, cần hạn chế cách tuyên truyền quá nặng thuật ngữ pháp lý mà thiếu hướng dẫn thao tác.
5 NGUYÊN TẮC VÀNG ĐỂ KHÔNG BỎ LỠ CHÍNH SÁCH
NGUYÊN TẮC 1: KIỂM TRA ĐÚNG ĐỐI TƯỢNG
Không phải mọi người nộp thuế đều mặc nhiên được gia hạn.
Phải đối chiếu ngành nghề, loại hình và kỳ tính thuế với Nghị định.
NGUYÊN TẮC 2: KÊ KHAI ĐÚNG, ĐỦ VÀ ĐÚNG HẠN
Được gia hạn thời hạn nộp tiền không đồng nghĩa được gia hạn thời hạn kê khai.
Người nộp thuế vẫn phải thực hiện việc kê khai theo pháp luật quản lý thuế hiện hành.
NGUYÊN TẮC 3: NHỚ MỐC 02/11/2026
Nếu thuộc diện áp dụng nhưng chưa gửi Văn bản đề nghị gia hạn cùng hồ sơ khai thuế thì cần đặc biệt lưu ý hạn cuối 02/11/2026.
NGUYÊN TẮC 4: GIA HẠN KHÔNG PHẢI MIỄN
Hãy coi số thuế được gia hạn là: “Khoản phải trả trong tương lai”
để chủ động dành nguồn tiền.
NGUYÊN TẮC 5: GIA HẠN ĐỂ PHÁT TRIỂN, KHÔNG PHẢI ĐỂ TRÌ HOÃN
Mục tiêu cuối cùng của chính sách là tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và dòng tiền, chứ không phải hình thành tâm lý trì hoãn nghĩa vụ.
VI. THÔNG ĐIỆP NHẮN GỬI
Nghị định 245/2026/NĐ-CP không đơn thuần là một chính sách “cho chậm nộp thuế”. Đây là một cơ chế hỗ trợ dòng tiền có thời hạn, giúp doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người kinh doanh có thêm không gian tài chính để duy trì hoạt động trong năm 2026.
Nhưng chính sách chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân biết mình có quyền gì, thực hiện thủ tục như thế nào và chuẩn bị nghĩa vụ ra sao.
Đừng để đến khi hết thời gian gia hạn mới bắt đầu lo tiền thuế.
Đừng để một chính sách hỗ trợ trở thành một khoản áp lực mới vì thiếu kế hoạch.
Hãy biến thời gian được gia hạn thành thời gian để phục hồi, củng cố và phát triển.
Với doanh nghiệp, quản trị tốt dòng tiền hôm nay là bảo vệ sự tồn tại của doanh nghiệp ngày mai.
Với hộ kinh doanh, hiểu đúng chính sách thuế là bảo vệ thành quả lao động của chính mình.
Với người nộp thuế, quyền được gia hạn luôn đi cùng trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ khi đến hạn.
Và với cộng đồng, pháp luật không chỉ để quy định nghĩa vụ; pháp luật còn tạo ra những cơ chế hỗ trợ để người dân và doanh nghiệp có thêm khả năng vượt qua khó khăn và phát triển bền vững.
Hiểu đúng pháp luật – thực hiện đúng thủ tục – quản trị tốt dòng tiền – chủ động cho ngày hết hạn.
Đó chính là cách biến chính sách thành cơ hội phục hồi và phát triển thực chất.
( ThS. Nguyễn Hữu Long Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị)
THÔNG TIN LIÊN HỆ: Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

