NHỮNG ĐIỂM MỚI QUAN TRỌNG CỦA LUẬT SỐ 99/2025/QH15 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ: NHỮNG ĐIỀU NGƯỜI DÂN CẦN BIẾT

10 / 100 Điểm SEO

NHỮNG ĐIỂM MỚI QUAN TRỌNG CỦA LUẬT SỐ 99/2025/QH15 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ: NHỮNG ĐIỀU NGƯỜI DÂN CẦN BIẾT

I. BỐI CẢNH THỰC TIỄN – VÌ SAO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ PHẢI TIẾP TỤC ĐƯỢC SỬA ĐỔI?

Trong những năm gần đây, cùng với quá trình cải cách tư pháp, chuyển đổi số quốc gia và việc sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, nhiều quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bộc lộ những hạn chế trong quá trình áp dụng. Một số quy định về thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử chưa còn phù hợp với mô hình tổ chức mới của các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiều thủ tục vẫn còn thực hiện theo phương thức truyền thống, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng nền tư pháp điện tử, hiện đại và minh bạch.

Bên cạnh đó, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng đặt ra yêu cầu phải xử lý nhanh chóng hơn các vụ án hình sự, đồng thời vẫn bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số cũng đòi hỏi pháp luật phải thừa nhận giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, chữ ký số và các phương thức thông báo tố tụng trên nền tảng số.

Xuất phát từ những yêu cầu đó, Quốc hội đã thông qua Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tạo nên những thay đổi quan trọng trong tổ chức hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động tố tụng, góp phần xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại và gần dân hơn.

II. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – NHỮNG ĐIỂM MỚI ĐÁNG CHÚ Ý CỦA LUẬT 99/2025/QH15

1. Hoàn thiện khái niệm về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Luật số 99/2025/QH15 đã sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 4 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 theo hướng hoàn thiện hệ thống thuật ngữ pháp lý, phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy nhà nước sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính. Cụ thể:

  • Điểm p khoản 1 Điều 4 (được bổ sung) quy định: “Viện kiểm sát có thẩm quyền là Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ việc, vụ án.”
  • Đồng thời, điểm k khoản 2 Điều 4 được bổ sung quy định: “Xã, phường, đặc khu sau đây gọi là cấp xã.”

Bên cạnh đó, điểm c khoản 1 Luật số 99/2025/QH15 cũng bãi bỏ một số điểm không còn phù hợp tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Việc sửa đổi Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tuy mang tính kỹ thuật lập pháp nhưng lại có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Khi hệ thống đơn vị hành chính được tổ chức lại theo mô hình mới, việc thống nhất khái niệm “cấp xã” và xác định chính xác “Viện kiểm sát có thẩm quyền” sẽ giúp tránh tình trạng xác định sai thẩm quyền giải quyết vụ án, bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử trên phạm vi cả nước.

2. Khẳng định rõ hơn vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

Khoản 2 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15 đã sửa đổi toàn diện Điều 20 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự.

Theo Điều 20 mới, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự; quyết định việc buộc tội; phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội đều được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

Đồng thời, Điều 20 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã được sửa đổi cũng giao Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định cụ thể thẩm quyền của từng cấp Viện kiểm sát trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp.

Điều 20 được sửa đổi đã thể hiện rõ hơn vai trò “kiểm soát quyền lực” của Viện kiểm sát trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm cân bằng giữa yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm với yêu cầu bảo vệ quyền con người, hạn chế tối đa các trường hợp oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

3. Mở rộng thẩm quyền điều tra của Công an cấp xã

Một trong những sửa đổi có tác động trực tiếp đến người dân là khoản 5 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15, bổ sung khoản 1a Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Theo quy định mới, Điều tra viên trung cấp hoặc Điều tra viên cao cấp đang giữ chức vụ Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã, khi được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công, có quyền trực tiếp tiến hành hoạt động khởi tố và điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã.

Tuy nhiên, khoản 1a Điều 37 cũng giới hạn rõ, không được quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Ngoài ra, Luật số 99/2025/QH15 giao Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn chi tiết việc thực hiện quy định này.

Đây là bước đột phá trong phân cấp hoạt động điều tra. Khi nhiều vụ án ít nghiêm trọng được giải quyết ngay từ cơ sở, thời gian xử lý sẽ được rút ngắn đáng kể, giảm áp lực cho cơ quan điều tra cấp tỉnh và tạo thuận lợi hơn cho người dân. Tuy nhiên, việc mở rộng thẩm quyền phải đi đôi với nâng cao năng lực chuyên môn và tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát để bảo đảm tính khách quan, đúng pháp luật.

4. Chính thức công nhận hồ sơ điện tử và chữ ký số trong tố tụng hình sự

Nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia, khoản 13,14 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15 đã bổ sung:

  • Khoản 5 Điều 131: Hồ sơ vụ án có thể được lập bằng văn bản giấy hoặc được số hóa theo quy định.
  • Khoản 3 Điều 132: Chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng có thể là chữ ký trực tiếp hoặc chữ ký số.

Đồng thời, luật số 99/2025/QH15 giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết việc thực hiện.

Đây là bước tiến mang tính lịch sử trong cải cách tư pháp, là nền tảng pháp lý quan trọng để xây dựng nền tư pháp điện tử tại Việt Nam,. Trước đây, hầu hết hồ sơ tố tụng đều tồn tại dưới dạng giấy, gây nhiều khó khăn trong lưu trữ, tra cứu và chia sẻ thông tin. Khi hồ sơ điện tử và chữ ký số được pháp luật thừa nhận, hoạt động tố tụng sẽ được rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí hành chính, hạn chế thất lạc hồ sơ và tăng cường tính minh bạch.

Việc công nhận giá trị pháp lý của hồ sơ số và chữ ký số sẽ giúp rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, giảm chi phí hành chính, tăng tính minh bạch và tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng vận hành trên môi trường số trong tương lai.

5. Mở rộng phương thức thông báo tố tụng trên môi trường số

Khoản 16 và khoản 17 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15 đã sửa đổi Điều 137 và Điều 141 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Theo đó, ngoài việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng như trước đây, cơ quan tiến hành tố tụng được phép thực hiện việc thông báo thông qua:

  • Nền tảng số;
  • Phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia;
  • Cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng.

Khoản 1 Điều 141 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã được sửa đổi bởi khoản 17 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15 quy định việc thông báo theo phương thức này được áp dụng khi việc niêm yết công khai không có kết quả hoặc trong các trường hợp pháp luật quy định.

Việc bổ sung phương thức thông báo điện tử là minh chứng rõ nét cho quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp. Quy định mới không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí mà còn nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của người dân, góp phần xây dựng nền tư pháp công khai, minh bạch và lấy người dân làm trung tâm phục vụ.

6. Điều chỉnh thẩm quyền bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bắt bị can để tạm giam

Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật số 99/2025/QH15 là sửa đổi quy định về chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, bảo đảm phù hợp với việc phân cấp điều tra tại cơ sở.

(1) Bổ sung chủ thể có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp

Theo khoản 11 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15, sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, ngoài Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp thì Điều tra viên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được giao nhiệm vụ điều tra) cũng có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Đồng thời, khoản 4 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 được sửa đổi theo hướng quy định rõ:

  • Trong 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay;
  • Người có thẩm quyền phải quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt hoặc trả tự do ngay nếu không đủ căn cứ tiếp tục giữ người;
  • Lệnh bắt phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền để xem xét phê chuẩn.

(2) Mở rộng thẩm quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam

Theo khoản 12 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15, sửa đổi khoản 1 Điều 113, Điều tra viên thuộc khoản 1a Điều 37 cũng được quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam. Tuy nhiên:

Lệnh bắt bắt buộc phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.

Việc mở rộng thẩm quyền cho Điều tra viên Công an cấp xã không đồng nghĩa với việc trao quyền tuyệt đối. Luật vẫn thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ thông qua việc bắt buộc Viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành lệnh bắt. Đây là sự cân bằng giữa yêu cầu xử lý nhanh các vụ việc ngay từ cơ sở với yêu cầu bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân theo Hiến pháp.

7. Quy định mới về kết luận điều tra và truy tố đối với bị can bỏ trốn hoặc đang ở nước ngoài

Một điểm mới đáng chú ý khác là khoản 27, 29 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi Điều 233 và Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Theo đó, trong trường hợp:

  • Bị can bỏ trốn, đã truy nã nhưng không có kết quả; hoặc
  • Bị can đang ở nước ngoài và không thể triệu tập để phục vụ hoạt động điều tra hoặc truy tố,

thì Cơ quan điều tra vẫn có thể kết luận điều tra đề nghị truy tố, còn Viện kiểm sát vẫn có thể ban hành cáo trạng truy tố, nếu đã có đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội và đã bảo đảm quyền bào chữa theo quy định của pháp luật.

Luật số 99/2025/QH15 cũng quy định rõ trách nhiệm niêm yết kết luận điều tra và cáo trạng trong trường hợp không thể giao trực tiếp cho bị can.

Sửa đổi này góp phần khắc phục tình trạng nhiều vụ án bị kéo dài chỉ vì bị can cố tình bỏ trốn hoặc ở nước ngoài. Tuy nhiên, luật số 99/2025/QH15 vẫn đặt ra điều kiện tiên quyết là cơ quan tiến hành tố tụng phải có đủ chứng cứ và bảo đảm quyền bào chữa của bị can. Điều này thể hiện nguyên tắc kết hợp giữa hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm với việc tôn trọng các quyền tố tụng cơ bản.

8. Điều chỉnh thẩm quyền xét xử của Tòa án theo mô hình tổ chức mới

Nhằm phù hợp với việc tổ chức lại hệ thống Tòa án, khoản 31 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15 đã sửa đổi Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Theo quy định mới:

  • Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm các vụ án về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và một số tội đặc biệt nghiêm trọng có mức cao nhất của khung hình phạt đến 20 năm tù.
  • Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử các vụ án không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực hoặc các vụ án có tính chất đặc biệt phức tạp, liên quan nhiều cấp, nhiều ngành, có ảnh hưởng lớn đến chính trị, đối ngoại hoặc dư luận xã hội.

Việc phân định lại thẩm quyền xét xử giúp giảm tải cho các Tòa án cấp tỉnh, đồng thời phát huy vai trò của Tòa án nhân dân khu vực trong giải quyết các vụ án thông thường. Đây là xu hướng phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp, đưa hoạt động xét xử đến gần người dân hơn nhưng vẫn bảo đảm các vụ án phức tạp được giải quyết bởi cấp có đủ năng lực và kinh nghiệm.

III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ: XÂY DỰNG NỀN TƯ PHÁP HIỆN ĐẠI LẤY NGƯỜI DÂN LÀM TRUNG TÂM

Dưới góc nhìn tích hợp của ThS. Nguyễn Hữu Long, Luật số 99/2025/QH15 không đơn thuần là văn bản sửa đổi một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, mà còn phản ánh sự chuyển biến trong tư duy lập pháp và quản trị quốc gia. Những sửa đổi lần này cho thấy Nhà nước đang hướng đến một nền tư pháp hiện đại, minh bạch, ứng dụng công nghệ số mạnh mẽ nhưng vẫn đặt quyền con người và quyền công dân ở vị trí trung tâm.

1. Góc nhìn tâm lý xã hội: Củng cố niềm tin của người dân vào công lý

Trong thực tế, tâm lý phổ biến của nhiều người khi tham gia vào quá trình tố tụng hình sự là lo lắng, e ngại và thiếu hiểu biết về trình tự, thủ tục pháp luật. Những thủ tục kéo dài, việc giải quyết vụ án chậm hoặc thiếu thông tin kịp thời dễ tạo cảm giác bất an, thậm chí làm giảm niềm tin của người dân đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Luật số 99/2025/QH15 đã có nhiều sửa đổi theo hướng khắc phục những hạn chế này. Việc mở rộng phương thức thông báo tố tụng trên môi trường số, công nhận hồ sơ điện tử và chữ ký số, cũng như phân cấp hợp lý thẩm quyền điều tra, xét xử sẽ giúp người dân tiếp cận thông tin nhanh hơn, giảm thời gian chờ đợi và hạn chế các thủ tục hành chính không cần thiết.

Ở góc độ tâm lý học pháp luật, khi người dân được tiếp cận thông tin đầy đủ, được bảo đảm quyền tham gia tố tụng và cảm nhận được sự công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, họ sẽ hình thành niềm tin tích cực hơn đối với pháp luật và hệ thống tư pháp. Niềm tin đó chính là nền tảng quan trọng để xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật.

2. Góc nhìn giáo dục pháp luật: Nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật trong thời đại số

Một trong những giá trị nổi bật của Luật số 99/2025/QH15 là thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hoạt động tố tụng hình sự. Tuy nhiên, chuyển đổi số không chỉ là sự thay đổi về công nghệ mà còn đặt ra yêu cầu thay đổi về nhận thức và hành vi của mỗi cá nhân.

Khi hồ sơ điện tử, chữ ký số, cổng thông tin điện tử và các nền tảng số được sử dụng trong tố tụng, mỗi công dân cần chủ động trang bị kiến thức pháp luật và kỹ năng số để thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Điều này góp phần hình thành văn hóa sử dụng dịch vụ công trực tuyến, giảm phụ thuộc vào giấy tờ truyền thống và nâng cao trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ thông tin cá nhân, sử dụng tài liệu điện tử đúng mục đích và tuân thủ quy định của pháp luật.

Dưới góc độ giáo dục pháp luật, đây là bước chuyển từ tư duy “đến cơ quan nhà nước để giải quyết công việc” sang tư duy “chủ động tương tác với cơ quan nhà nước trên môi trường số”, phù hợp với xu hướng xây dựng Chính phủ số và công dân số tại Việt Nam.

3. Góc nhìn quản trị công: Phân cấp mạnh nhưng không buông lỏng kiểm soát quyền lực

Một trong những điểm nổi bật của Luật là mở rộng thẩm quyền cho Điều tra viên là Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã trong một số hoạt động điều tra. Đồng thời, Luật cũng điều chỉnh lại thẩm quyền của Viện kiểm sát và Tòa án để phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới.
Theo quan điểm của ThS. Nguyễn Hữu Long, đây là biểu hiện rõ nét của tư duy quản trị hiện đại: phân quyền để nâng cao hiệu quả nhưng đồng thời tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực.

Mặc dù thẩm quyền của lực lượng Công an cấp xã được mở rộng, Luật vẫn quy định rõ nhiều quyết định quan trọng như lệnh bắt bị can để tạm giam hoặc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đều phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.

Điều này cho thấy quá trình cải cách tư pháp không nhằm trao thêm quyền lực một cách tuyệt đối cho bất kỳ cơ quan nào, mà hướng đến xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, bảo đảm mọi quyết định hạn chế quyền con người đều phải chịu sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền theo luật định.

4. Góc nhìn bảo vệ quyền con người: Hiệu quả tố tụng phải song hành với công bằng

Một nền tư pháp hiện đại không chỉ được đánh giá bằng tốc độ giải quyết vụ án mà còn phải được đo bằng khả năng bảo vệ quyền con người.

Luật số 99/2025/QH15 đã thể hiện rõ quan điểm này thông qua việc vừa mở rộng thẩm quyền cho các cơ quan tiến hành tố tụng, vừa duy trì các cơ chế kiểm sát, phê chuẩn và giám sát của Viện kiểm sát đối với nhiều quyết định quan trọng trong quá trình điều tra. Đồng thời, Luật vẫn bảo đảm nguyên tắc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm.

Theo ThS. Nguyễn Hữu Long, đây chính là sự cân bằng cần thiết giữa hai yêu cầu tưởng chừng đối lập: nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ các quyền hiến định của công dân. Chỉ khi hai mục tiêu này được thực hiện đồng thời thì cải cách tư pháp mới thực sự mang lại giá trị bền vững cho xã hội.

5. Ý nghĩa xã hội của Luật số 99/2025/QH15

Từ góc nhìn liên ngành Pháp luật – Tâm lý – Giáo dục – Quản trị, có thể khẳng định rằng Luật số 99/2025/QH15 không chỉ sửa đổi các quy định về trình tự, thủ tục tố tụng hình sự mà còn góp phần kiến tạo một nền tư pháp hiện đại, chuyên nghiệp và thân thiện với người dân.

Những thay đổi về phân cấp thẩm quyền, số hóa hồ sơ, mở rộng phương thức thông báo điện tử và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực sẽ giúp giảm chi phí xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo dựng niềm tin của người dân và cộng đồng doanh nghiệp vào hệ thống tư pháp Việt Nam.

Đây cũng là bước đi quan trọng trong quá trình thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nơi mọi hoạt động tố tụng đều hướng tới mục tiêu cao nhất là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và phục vụ Nhân dân.

IV. LỜI KHUYÊN VÀ GIẢI PHÁP TỪ CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG: CHỦ ĐỘNG HIỂU LUẬT – ĐỒNG HÀNH CÙNG CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Luật số 99/2025/QH15 là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam. Tuy nhiên, để những quy định tiến bộ của Luật số 99/2025/QH15 thực sự đi vào cuộc sống, bên cạnh sự nỗ lực của các cơ quan tiến hành tố tụng thì mỗi người dân, doanh nghiệp và đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật cũng cần chủ động thay đổi nhận thức và phương thức tiếp cận pháp luật.

1. Chủ động tìm hiểu quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng hình sự

Không ít trường hợp người dân vì thiếu hiểu biết pháp luật nên không biết cách bảo vệ quyền lợi của mình khi tham gia tố tụng với tư cách người bị tố giác, người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc bị can, bị cáo.

Do đó, khi nhận được giấy triệu tập, quyết định tố tụng hoặc các thông báo từ cơ quan tiến hành tố tụng, người dân cần bình tĩnh nghiên cứu kỹ nội dung văn bản, xác định rõ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong trường hợp chưa hiểu rõ quy định pháp luật, nên chủ động trao đổi với luật sư hoặc chuyên gia pháp lý để được hướng dẫn kịp thời, tránh những sai sót có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân.

Việc chủ động tiếp cận kiến thức pháp luật không chỉ giúp mỗi cá nhân tự bảo vệ mình mà còn góp phần xây dựng ý thức thượng tôn pháp luật trong cộng đồng.

2. Thích ứng với xu hướng chuyển đổi số trong hoạt động tư pháp

Một trong những điểm mới nổi bật của Luật số 99/2025/QH15 là thừa nhận hồ sơ điện tử, chữ ký số và các phương thức thông báo tố tụng trên môi trường số, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng nền tư pháp điện tử.

Để tận dụng những tiện ích này, người dân và doanh nghiệp cần:

  • Chủ động sử dụng các dịch vụ công trực tuyến khi thực hiện thủ tục với cơ quan nhà nước;
  • Thường xuyên cập nhật thông tin trên Cổng thông tin điện tử hoặc các nền tảng số của cơ quan tiến hành tố tụng khi có liên quan đến vụ việc của mình;
  • Nâng cao kỹ năng sử dụng chữ ký số, tài khoản định danh điện tử và các phương thức xác thực điện tử theo quy định của pháp luật.

Theo ThS. Nguyễn Hữu Long, chuyển đổi số chỉ phát huy hiệu quả khi cả cơ quan nhà nước và người dân cùng thay đổi tư duy từ “làm việc trực tiếp” sang “tương tác trên môi trường số” một cách an toàn, minh bạch và có trách nhiệm.

3. Tôn trọng và hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng

Việc luật số 99/2025/QH15 mở rộng thẩm quyền cho một số chủ thể trong hoạt động điều tra không có nghĩa là quyền lực của cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện một cách tùy tiện. Ngược lại, mọi quyết định tố tụng vẫn phải tuân thủ chặt chẽ các điều kiện, trình tự và chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người dân cần hợp tác đầy đủ với cơ quan có thẩm quyền, cung cấp thông tin, tài liệu trung thực, chấp hành các yêu cầu hợp pháp của cơ quan tiến hành tố tụng. Đồng thời, nếu phát hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc có dấu hiệu xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình, người dân cần sử dụng quyền khiếu nại, tố cáo theo đúng trình tự pháp luật quy định thay vì có những hành vi cản trở hoặc chống đối việc thực thi công vụ.

Tinh thần hợp tác trên cơ sở hiểu biết pháp luật sẽ góp phần giúp quá trình giải quyết vụ án được khách quan, nhanh chóng và đúng quy định.

4. Đối với đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật: Nâng cao trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp và năng lực số

Việc phân cấp mạnh hơn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là mở rộng một số thẩm quyền cho Công an cấp xã, đồng nghĩa với việc yêu cầu về trình độ chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp và trách nhiệm công vụ cũng ngày càng cao.

Theo quan điểm của ThS. Nguyễn Hữu Long, mỗi Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng cần:

  • Thường xuyên cập nhật các quy định mới của pháp luật;
  • Thành thạo kỹ năng sử dụng hồ sơ điện tử, chữ ký số và các nền tảng công nghệ trong hoạt động nghiệp vụ;
  • Đề cao đạo đức nghề nghiệp, tinh thần khách quan, công tâm và trách nhiệm giải trình;
  • Thực hiện đúng nguyên tắc “thượng tôn pháp luật”, không để xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm hoặc lạm dụng quyền lực trong quá trình giải quyết vụ án.

Cải cách tư pháp chỉ thực sự thành công khi đi đôi với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật.

5. Đối với doanh nghiệp: Chủ động xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại điện tử, đầu tư và công nghệ, cần nhận thức rằng tố tụng hình sự không chỉ liên quan đến việc xử lý tội phạm mà còn là công cụ bảo vệ môi trường đầu tư lành mạnh.

Doanh nghiệp nên:

  • Xây dựng cơ chế kiểm soát nội bộ và phòng ngừa rủi ro pháp lý;
  • Lưu trữ hồ sơ, dữ liệu điện tử đầy đủ, khoa học để phục vụ việc xác minh khi cần thiết;
  • Chủ động phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng khi có yêu cầu hợp pháp;
  • Thường xuyên tổ chức đào tạo, phổ biến pháp luật cho người lao động nhằm hạn chế các hành vi vi phạm phát sinh từ sự thiếu hiểu biết.

Việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật không chỉ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro mà còn góp phần nâng cao uy tín và năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Thông điệp nhân văn: “Pháp luật không chỉ phát huy giá trị khi được ban hành, mà chỉ thực sự có ý nghĩa khi được người dân hiểu đúng, cơ quan nhà nước thực thi đúng và toàn xã hội cùng tự giác tuân thủ. Luật số 99/2025/QH15 là bước tiến quan trọng trong cải cách tư pháp, nhưng thành công của Luật không chỉ phụ thuộc vào những quy định trên giấy mà còn phụ thuộc vào ý thức pháp luật của mỗi công dân, trách nhiệm của mỗi cán bộ và sự đồng hành của toàn xã hội. Một nền tư pháp hiện đại phải là nền tư pháp bảo vệ công lý, tôn trọng quyền con người và lấy người dân làm trung tâm của mọi hoạt động phục vụ.”

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

 

 

 

Để lại một bình luận