ĐỊNH MỨC KINH TẾ – KỸ THUẬT DỊCH VỤ XÚC TIẾN, QUẢNG BÁ DU LỊCH THEO THÔNG TƯ 15/2026/TT-BVHTTDL: MINH BẠCH NGÂN SÁCH, TIẾP SỨC NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM CẤT CÁNH

ĐỊNH MỨC KINH TẾ – KỸ THUẬT DỊCH VỤ XÚC TIẾN, QUẢNG BÁ DU LỊCH THEO THÔNG TƯ 15/2026/TT-BVHTTDL: MINH BẠCH NGÂN SÁCH, TIẾP SỨC NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM CẤT CÁNH

Ngày 23/6/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông tư số 15/2026/TT-BVHTTDL quy định về định mức kinh tế – kỹ thuật dịch vụ xúc tiến, quảng bá du lịch ở trong nước và ngoài nước; phát triển thương hiệu du lịch quốc gia và địa phương; tổ chức, tham gia các sự kiện du lịch quy mô liên vùng, quốc gia (Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2026). Đây là văn bản kỹ thuật nhưng có ý nghĩa quản trị rất lớn: nó là “thước đo” để các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực du lịch lập dự toán, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước một cách minh bạch, đúng quy định.

Dưới góc nhìn tích hợp Pháp luật – Tâm lý – Quản trị của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị, bài viết sẽ giải mã những nội dung cốt lõi nhất của Thông tư 15/2026/TT-BVHTTDL và gợi mở những khuyến nghị thiết thực cho các cơ quan quản lý, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp du lịch.

I. BỐI CẢNH THỰC TẾ – “KHOẢNG TRỐNG” ĐỊNH MỨC TRONG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN DU LỊCH

Trong nhiều năm qua, các Trung tâm/Cục Xúc tiến du lịch, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địa phương khi tổ chức hội chợ, sự kiện quảng bá điểm đến, sản xuất ấn phẩm, video giới thiệu du lịch… thường gặp một bài toán chung:

  • Chị L., cán bộ phụ trách xúc tiến du lịch của một Trung tâm xúc tiến cấp tỉnh, chia sẻ: mỗi lần lập dự toán tổ chức một chương trình giới thiệu điểm đến ở nước ngoài, chị đều phải “cân đo đong đếm” nhân công, vật tư theo kinh nghiệm cá nhân vì thiếu một định mức chuẩn được pháp luật quy định, dẫn tới tâm lý lo lắng khi trình duyệt và canh cánh nỗi lo bị xuất toán khi thanh tra, kiểm toán.
  • Anh T., quản lý một đơn vị sự nghiệp công lập tổ chức sự kiện du lịch liên vùng, cho biết việc xây dựng dự toán cho một sự kiện có hàng chục đầu việc (từ khảo sát địa điểm, truyền thông, dàn dựng đến tổ chức chấm điểm, trao giải) trước đây phải tham chiếu nhiều văn bản rời rạc, dễ dẫn đến áp dụng thiếu thống nhất giữa các địa phương.

Tâm lý phổ biến của đội ngũ cán bộ, viên chức khi thiếu một “thước đo” thống nhất là e ngại, thụ động, thậm chí né tránh triển khai các hoạt động xúc tiến vì sợ rủi ro pháp lý khi lập và quyết toán ngân sách. Thông tư 15/2026/TT-BVHTTDL ra đời chính là lời giải cho “khoảng trống” này, tạo hành lang định mức rõ ràng, thống nhất trên phạm vi cả nước.

II. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – “THƯỚC ĐO” MINH BẠCH TỪ THÔNG TƯ 15/2026/TT-BVHTTDL

  1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Theo Điều 1 Thông tư 15/2026/TT-BVHTTDL, Thông tư quy định định mức kinh tế – kỹ thuật đối với các dịch vụ sự nghiệp công có sử dụng ngân sách nhà nước, gồm ba nhóm dịch vụ chính:

  • Dịch vụ xúc tiến, quảng bá du lịch ở trong nước và ngoài nước (tổ chức hội chợ, tham gia hội chợ/triển lãm, tổ chức chương trình giới thiệu điểm đến, sản xuất ấn phẩm/video/vật phẩm quảng bá, tổ chức đoàn khảo sát sản phẩm, điểm đến du lịch);
  • Dịch vụ phát triển thương hiệu du lịch quốc gia và địa phương (xây dựng bộ nhận diện thương hiệu du lịch);
  • Dịch vụ tổ chức, tham gia các sự kiện du lịch quy mô liên vùng, quốc gia (kể cả nội dung chấm điểm, bình chọn, trao giải).

Đối tượng áp dụng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng ngân sách nhà nước để cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công nêu trên và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

  1. Ba Phụ lục – “bộ định mức chuẩn” cho toàn ngành

Định mức được ban hành kèm theo 3 Phụ lục (Điều 2): Phụ lục I (dịch vụ xúc tiến, quảng bá du lịch), Phụ lục II (dịch vụ phát triển thương hiệu du lịch quốc gia, địa phương) và Phụ lục III (dịch vụ tổ chức, tham gia sự kiện du lịch liên vùng, quốc gia). Mỗi định mức được kết cấu thống nhất, gồm: tên định mức, mô tả nội dung công việc, bảng định mức (hao phí nhân công, máy móc thiết bị, vật liệu sử dụng) và phần ghi chú hướng dẫn áp dụng trong các điều kiện khác nhau.

  1. Nguyên tắc “mức trần” và cách tính hao phí

Điều 3 Thông tư 15/2026/TT-BVHTTDL khẳng định rõ: định mức kinh tế – kỹ thuật quy định tại Thông tư này là

  • mức tối đa để hoàn thành việc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công (không phải mức áp đặt cứng cho mọi trường hợp);
  • hao phí nhân công trực tiếp tính theo công (1 công = 1 ngày làm việc 8 giờ); hao phí lao động gián tiếp được tính bằng 15% hao phí lao động trực tiếp;
  • hao phí máy móc, thiết bị tính theo ca sử dụng; hao phí vật liệu phụ được tính bằng 10% tổng giá trị vật liệu chính trong cùng bảng định mức.

Đáng chú ý, các bảng định mức đều đi kèm hệ số điều chỉnh linh hoạt theo quy mô (số gian hàng, số khách mời, số ngày tổ chức, số hồ sơ dự thi…), giúp việc áp dụng sát với thực tế từng chương trình, sự kiện cụ thể thay vì áp dụng máy móc, cào bằng.

  1. Những khoản chi phí không nằm trong định mức

Một điểm các cơ quan, đơn vị cần đặc biệt lưu ý: mỗi bảng định mức đều liệt kê rõ danh mục các chi phí không thuộc phạm vi định mức, như: chi phí đấu thầu, công tác phí, thuê địa điểm và dịch vụ đi kèm, chi phí bản quyền tư liệu, chi phí thuê MC/nghệ sĩ theo giá thị trường, chi phí giải thưởng… Những khoản này được lập dự toán riêng theo quy định pháp luật về ngân sách nhà nước và các văn bản chuyên ngành có liên quan (như các Thông tư của Bộ Tài chính về chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị, tiếp khách nước ngoài).

  1. Tổ chức thực hiện và hiệu lực thi hành

Điều 5 giao các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ định mức khung tại Thông tư để xem xét, quyết định áp dụng định mức cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị mình – vừa bảo đảm thống nhất trên toàn quốc, vừa tạo sự linh hoạt cần thiết cho từng địa phương. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2026 (Điều 6).

III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ: “CHÌA KHÓA” MINH BẠCH VÀ AN TÂM

  1. Góc nhìn tâm lý: Giải tỏa áp lực cho đội ngũ thực thi

Việc thiếu một định mức chuẩn từng khiến cán bộ, viên chức phụ trách xúc tiến du lịch mang tâm lý bất an, e ngại khi lập, trình duyệt dự toán bởi lo sợ bị quy trách nhiệm nếu áp dụng không đúng. Khi có một “thước đo” cụ thể, minh bạch, tâm lý của người thực thi công vụ sẽ chuyển từ thụ động, phòng thủ sang chủ động, tự tin; đồng thời giảm thiểu rủi ro sai sót không mong muốn trong quá trình thanh, quyết toán.

  1. Góc nhìn quản trị công: Từ “làm theo kinh nghiệm” sang “quản trị theo chuẩn mực”

Thông tư 15/2026/TT-BVHTTDL thể hiện tư duy quản trị hiện đại: chuẩn hóa định mức hao phí nhân công – máy móc – vật liệu cho từng loại hình dịch vụ cụ thể, làm căn cứ khách quan để lập dự toán, thẩm định, phê duyệt và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước. Đây là công cụ quan trọng góp phần phòng ngừa thất thoát, lãng phí, đồng thời nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách trong lĩnh vực xúc tiến, quảng bá du lịch.

  1. Góc nhìn giáo dục ý thức tuân thủ và sử dụng hiệu quả nguồn lực công

Việc quy định định mức là “mức tối đa” (không phải mức mặc định phải chi hết) cũng mang giá trị giáo dục sâu sắc: khuyến khích các đơn vị chủ động tính toán, tiết kiệm, sử dụng ngân sách hiệu quả thay vì lập dự toán theo hướng “chi cho hết định mức”. Đây là nét văn hóa quản trị công cần được lan tỏa trong toàn ngành du lịch.

IV.KHUYẾN NGHỊ TỪ CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG

Để các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp du lịch áp dụng hiệu quả Thông tư 15/2026/TT-BVHTTDL, ThS. Nguyễn Hữu Long đưa ra một số khuyến nghị thiết thực:

  • Rà soát, ban hành định mức cụ thể của đơn vị: Căn cứ 3 Phụ lục của Thông tư, các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập cần chủ động rà soát, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định định mức cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế thay vì áp dụng dập khuôn.
  • Áp dụng đúng hệ số điều chỉnh theo quy mô thực tế: Khi tổ chức chương trình có quy mô khác với đơn vị tính chuẩn (số gian hàng, số khách, số ngày, số hồ sơ dự thi…), cán bộ lập dự toán cần tính đúng, tính đủ hệ số tăng/giảm được quy định tại phần “Ghi chú” của từng định mức để tránh sai lệch.
  • Phân định rõ khoản mục nằm ngoài định mức: Các đơn vị và doanh nghiệp du lịch phối hợp triển khai cần chủ động lập phương án giá riêng cho các khoản chi phí không thuộc định mức (thuê địa điểm, đấu thầu, công tác phí, giải thưởng…) theo đúng quy định pháp luật hiện hành về ngân sách nhà nước và đấu thầu.
  • Cập nhật đồng bộ các văn bản liên quan: Do định mức có liên hệ chặt chẽ với các quy định về chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị, tiếp khách (Thông tư số 40/2017/TT-BTC, 12/2025/TT-BTC, 140/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính…), các đơn vị cần thường xuyên cập nhật để áp dụng đồng bộ, tránh thiếu sót khi lập dự toán tổng thể cho một chương trình, sự kiện.

Thông điệp nhân văn: “Một định mức kinh tế – kỹ thuật rõ ràng không chỉ là công cụ quản lý ngân sách, mà còn là ‘điểm tựa tâm lý’ để cán bộ, viên chức yên tâm cống hiến, sáng tạo trong công tác xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam ra thế giới. Minh bạch trong sử dụng nguồn lực công chính là nền tảng để xây dựng niềm tin và sự phát triển bền vững cho ngành du lịch nước nhà.”

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc đơn vị của bạn đang gặp vướng mắc pháp lý liên quan đến định mức kinh tế – kỹ thuật, sử dụng ngân sách nhà nước hay các lĩnh vực pháp luật khác, hãy liên hệ qua hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

Để lại một bình luận