TỔNG QUAN LUẬT SỐ 79/2025/QH15 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM: NHỮNG ĐIỂM MỚI NGƯỜI DÂN CẦN BIẾT
Quốc tịch là mối liên hệ pháp lý gắn bó mỗi công dân với Tổ quốc, là nền tảng để thực hiện các quyền và nghĩa vụ thiêng liêng nhất. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, ngày càng nhiều người Việt Nam định cư, học tập, làm ăn ở nước ngoài mang hai quốc tịch, kéo theo không ít vướng mắc về thủ tục nhập, trở lại, thôi quốc tịch mà pháp luật trước đây chưa quy định đầy đủ.
Ngày 24/6/2025, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật số 79/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam số 39/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 56/2014/QH13 (sau đây gọi tắt là Luật số 79/2025/QH15), chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025 (theo khoản 1 Điều 2 Luật số 79/2025/QH15). Đây là lần sửa đổi mang tính đột phá, tháo gỡ nhiều nút thắt về thủ tục quốc tịch tồn tại nhiều năm qua. Dưới góc nhìn tích hợp Pháp luật – Tâm lý – Quản trị của ThS. Nguyễn Hữu Long, bài viết phổ biến pháp luật này sẽ giải mã những điểm mới cốt lõi nhất của Luật số 79/2025/QH15.
- BỐI CẢNH THỰC TẾ – NHỮNG “NÚT THẮT” TRONG THỦ TỤC QUỐC TỊCH
Thực tế nhiều năm qua cho thấy, không ít cá nhân, gia đình người Việt ở nước ngoài từng rơi vào cảnh dở khóc dở cười vì vướng mắc quốc tịch:
- Câu chuyện Việt kiều hồi hương giả định: Kiều bào tại Cộng hòa Séc hơn 20 năm, muốn về Việt Nam đầu tư nhưng không còn giữ giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, trong khi thủ tục xác nhận trước đây rất phức tạp, kéo dài, khiến ông chần chừ mãi không dám về nước.
- Câu chuyện gia đình đa quốc tịch giả định: Chị C kết hôn với chồng người nước ngoài, sinh con tại Việt Nam. Vợ chồng chị không thống nhất được việc chọn quốc tịch cho con, dẫn đến việc làm giấy khai sinh cho cháu bị chậm trễ nhiều tháng vì thiếu quy định rõ ràng hướng xử lý.
Tâm lý phổ biến của người dân, đặc biệt là cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, là sự băn khoăn, lo lắng và e ngại thủ tục hành chính khi cần xác lập lại mối liên hệ pháp lý với Tổ quốc. Luật số 79/2025/QH15 ra đời chính là lời giải thiết thực cho những vướng mắc này.
- GÓC NHÌN PHÁP LÝ – NHỮNG ĐIỂM MỚI CỐT LÕI CỦA LUẬT SỐ 79/2025/QH15
- Xác lập nguyên tắc quốc tịch rõ ràng hơn đối với công dân đồng thời có quốc tịch nước ngoài
- Theo khoản 1 Điều 1 Luật số 79/2025/QH15 (sửa đổi Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam): Trên lãnh thổ Việt Nam, Nhà nước chỉ công nhận quốc tịch Việt Nam đối với công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác (khoản 4 Điều 5).
- Theo khoản 1 Điều 1 Luật số 79/2025/QH15 (sửa đổi Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam): Người ứng cử, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ trong cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị – xã hội; người làm việc trong tổ chức cơ yếu; người tham gia lực lượng vũ trang phải là người chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và phải thường trú tại Việt Nam (khoản 5 Điều 5). Khoản 6 Điều 5 mở rộng yêu cầu này với công chức, viên chức nói chung, trừ trường hợp có lợi cho Nhà nước, không làm phương hại đến lợi ích quốc gia và phải thường trú tại Việt Nam.
- Theo khoản 1 Điều 1 Luật số 79/2025/QH15 (sửa đổi Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam): Quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam liên quan đến quốc tịch Việt Nam theo Luật này không bị khiếu nại, khiếu kiện (khoản 8 Điều 5).
- Bổ sung quy định về xác nhận quốc tịch cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài không còn giấy tờ
Theo khoản 3 Điều 1 Luật số 79/2025/QH15 (sửa đổi Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam): Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 13). Trường hợp không có giấy tờ chứng minh quốc tịch, người đó có thể đề nghị cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài xác nhận có quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục do Chính phủ quy định (khoản 3 Điều 13) – gỡ nút thắt cho hàng trăm nghìn kiều bào không còn lưu giữ giấy tờ gốc.
- Quy định rõ việc lựa chọn quốc tịch cho trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam
Theo khoản 4 Điều 1 Luật số 79/2025/QH15 (sửa đổi khoản 2 Điều 16 Luật Quốc tịch Việt Nam): Trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn khi làm thủ tục khai sinh. Trường hợp trẻ sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam – quy định mới giúp chấm dứt tình trạng chậm trễ khai sinh do cha mẹ không thống nhất được lựa chọn quốc tịch.
- Nới lỏng điều kiện nhập quốc tịch, cho phép giữ quốc tịch nước ngoài trong nhiều trường hợp
Theo khoản 6 Điều 1 Luật số 79/2025/QH15 (sửa đổi Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam):
- Người xin nhập quốc tịch Việt Nam có vợ, chồng hoặc con đẻ là công dân Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch mà không phải đáp ứng điều kiện về biết tiếng Việt, thời gian thường trú, khả năng bảo đảm cuộc sống (khoản 2 Điều 19).
- Mở rộng diện miễn trừ tương tự cho người có cha, mẹ, ông bà nội/ngoại là công dân Việt Nam (điểm a khoản 3 Điều 19), người có công lao đặc biệt đóng góp cho đất nước (điểm b khoản 3 Điều 19), người có lợi cho Nhà nước Việt Nam (điểm c khoản 3 Điều 19).
- Đặc biệt, khoản 6 Điều 19 cho phép người xin nhập quốc tịch thuộc các trường hợp trên được giữ quốc tịch nước ngoài nếu việc giữ quốc tịch phù hợp pháp luật nước đó, không gây phương hại đến an ninh, lợi ích quốc gia Việt Nam và được Chủ tịch nước cho phép – một thay đổi mang tính bước ngoặt so với nguyên tắc một quốc tịch trước đây.
- Rút gọn, minh bạch hồ sơ và rút ngắn thời hạn giải quyết thủ tục
Theo khoản 7 và khoản 8 Điều 1 Luật số 79/2025/QH15 (sửa đổi Điều 20 và Điều 21 Luật Quốc tịch Việt Nam):
- Giấy tờ chứng minh lý lịch tư pháp do nước ngoài cấp phải còn hiệu lực không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ (điểm d khoản 1 Điều 20).
- Về quy trình, Điều 21 quy định rõ thời hạn từng bước: Sở Tư pháp đề nghị Công an cấp tỉnh xác minh nhân thân trong 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (khoản 2); cơ quan Công an xác minh và trả kết quả trong 30 ngày (khoản 2); đối với hồ sơ nộp tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, thời hạn thẩm tra là 20 ngày (khoản 2a) – rút ngắn đáng kể so với quy trình cũ, minh bạch hóa từng khâu xử lý.
- Bổ sung điều kiện, trình tự trở lại quốc tịch Việt Nam
Theo khoản 10 Điều 1 Luật số 79/2025/QH15 (sửa đổi Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam): Điều 23 được đổi tên thành “Điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam” và bổ sung khoản 4: người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải lấy lại tên gọi Việt Nam trước đây hoặc có thể chọn tên ghép giữa tên Việt Nam và tên nước ngoài. Khoản 5 Điều 23 tiếp tục cho phép người xin trở lại quốc tịch được giữ quốc tịch nước ngoài nếu đáp ứng điều kiện tương tự như quy định tại Điều 19 và được Chủ tịch nước cho phép.
- Lần đầu tiên luật hóa cơ chế hủy bỏ Quyết định cho nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam
Theo khoản 14 và khoản 15 Điều 1 Luật số 79/2025/QH15 (bổ sung Mục 4 Chương III gồm Điều 33 và Điều 34 vào Luật Quốc tịch Việt Nam):
- Về căn cứ hủy bỏ (Điều 33): Người đã nhập hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam sẽ bị hủy bỏ Quyết định nếu cố ý khai báo, cam đoan không đúng sự thật, giả mạo giấy tờ khi xin nhập/trở lại quốc tịch (điểm a khoản 1 Điều 33), hoặc lợi dụng việc nhập, trở lại, giữ quốc tịch nước ngoài để gây phương hại đến an ninh, lợi ích quốc gia của Việt Nam (điểm b khoản 1 Điều 33). Việc hủy bỏ quyết định của vợ hoặc chồng không làm thay đổi quốc tịch của người kia (khoản 2 Điều 33).
- Về trình tự (Điều 34): Trong 15 ngày kể từ khi phát hiện hoặc nhận được đơn, thư tố cáo, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm xác minh, lập hồ sơ kiến nghị Chủ tịch nước hủy bỏ nếu có đủ căn cứ (khoản 1 Điều 34); Bộ Tư pháp thẩm tra hồ sơ trong 15 ngày (khoản 2 Điều 34) và Chủ tịch nước xem xét, quyết định trong 20 ngày kể từ khi nhận đề nghị của Thủ tướng Chính phủ (khoản 3 Điều 34).
- Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước và đẩy mạnh chuyển đổi số trong giải quyết hồ sơ quốc tịch
Theo khoản 17 và khoản 18 Điều 1 Luật số 79/2025/QH15 (sửa đổi Điều 38 và Điều 39 Luật Quốc tịch Việt Nam):
- Bổ sung thẩm quyền của Chủ tịch nước trong việc quyết định hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam (khoản 1 Điều 38).
- Giao Chính phủ quy định việc thực hiện giải quyết hồ sơ quốc tịch trên môi trường điện tử căn cứ điều kiện kinh tế – xã hội và khả năng thực hiện trong từng thời kỳ – mở đường cho việc số hóa toàn diện thủ tục quốc tịch trong tương lai gần (khoản 7 Điều 39).
- Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp
Theo Điều 2 và Điều 3 Luật số 79/2025/QH15:
- Luật số 79/2025/QH15 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025 (khoản 1 Điều 2).
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong thời hạn 02 năm kể từ ngày Luật có hiệu lực (khoản 2 Điều 2).
- Hồ sơ xin nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam đã tiếp nhận trước thời điểm Luật có hiệu lực được giải quyết theo quy định của Luật mới (Điều 3).
III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ: “GẮN KẾT MÁU THỊT VỚI QUÊ HƯƠNG”
Dưới góc độ tích hợp của ThS. Nguyễn Hữu Long, Luật số 79/2025/QH15 không chỉ là văn bản kỹ thuật về quốc tịch, mà còn hàm chứa tầng ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Về mặt tâm lý xã hội, việc cho phép giữ quốc tịch nước ngoài trong nhiều trường hợp (theo khoản 6 Điều 19 và khoản 5 Điều 23 Luật số 79/2025/QH15) giúp xóa bỏ tâm lý “phải lựa chọn, đánh đổi” từng đè nặng lên nhiều kiều bào, mang lại cảm giác được thấu hiểu, được tạo điều kiện thay vì bị ràng buộc cứng nhắc.
Về mặt giáo dục tinh thần trách nhiệm, cơ chế hủy bỏ quyết định cho nhập, trở lại quốc tịch tại Điều 33 và Điều 34 Luật số 79/2025/QH15 là lời nhắc nhở rõ ràng: quốc tịch không chỉ là quyền lợi mà còn gắn với nghĩa vụ trung thực và trách nhiệm với an ninh, lợi ích quốc gia – một bài học quản trị công bằng và răn đe cần thiết.
- LỜI KHUYÊN VÀ GIẢI PHÁP TỪ CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG
- Với kiều bào chưa có giấy tờ chứng minh quốc tịch: Nên liên hệ ngay cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác nhận có quốc tịch Việt Nam theo khoản 3 Điều 13 Luật số 79/2025/QH15, tránh chậm trễ khi cần thực hiện các giao dịch, đầu tư trong nước.
- Với gia đình có con mang hai quốc tịch: Cha mẹ nên chủ động thỏa thuận lựa chọn quốc tịch cho con ngay khi làm thủ tục khai sinh theo khoản 4 Điều 1 Luật số 79/2025/QH15 để tránh phát sinh vướng mắc về sau.
- Với người có nguyện vọng nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam mà muốn giữ quốc tịch nước ngoài: Cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ chứng minh đủ điều kiện tại khoản 2, khoản 3 Điều 19 hoặc Điều 23 Luật số 79/2025/QH15, đồng thời cam kết không sử dụng quốc tịch nước ngoài gây phương hại đến lợi ích quốc gia.
- Với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang: Cần rà soát tình trạng quốc tịch của bản thân theo khoản 5, khoản 6 Điều 5 Luật số 79/2025/QH15 để bảo đảm tuân thủ đúng quy định mới, tránh ảnh hưởng đến vị trí công tác.
Thông điệp nhân văn: “Quốc tịch không chỉ là một dòng chữ trên giấy tờ, mà là sợi dây máu thịt gắn kết mỗi người con đất Việt với quê hương. Luật số 79/2025/QH15 mở ra cánh cửa nhân văn hơn cho kiều bào trở về, đồng thời khẳng định rằng tình yêu Tổ quốc luôn song hành cùng trách nhiệm và lòng trung thực.”
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, Kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

