TÌNH HUỐNG SỐ 219: NGƯỜI DÂN TỰ Ý MỞ ĐƯỜNG ĐI CHUNG XUYÊN QUA NHIỀU THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC HỘ KHÁC ĐỂ PHÂN LÔ BÁN NỀN: CƠ QUAN NÀO CÓ THẨM QUYỀN CƯỠNG CHẾ PHÁ DỠ ĐƯỜNG, KHÔI PHỤC NGUYÊN TRẠNG?

10 / 100 Điểm SEO

“Đường này do tôi bỏ tiền làm, đất cũng là đất tôi mua lại của dân. Tôi mở đường để chia lô bán đất chứ có chiếm đất của Nhà nước đâu. Tại sao chính quyền lại yêu cầu phá đường, trả lại đất nông nghiệp?” Đằng sau một con đường đất tưởng như vô hại có thể là cả một “đường dây đầu cơ bất động sản”: tự ý mở đường – tạo lối tiếp cận – chia nhỏ thửa đất – quảng cáo “đất nền có đường” – nâng giá – nhận tiền đặt cọc – rồi đẩy người mua vào một khu đất chưa đủ điều kiện hình thành khu dân cư. Vấn đề pháp lý vì vậy không chỉ là: “Có được tự ý mở đường trên đất nông nghiệp hay không?” mà còn là: “Ai có quyền xử phạt? Ai có quyền buộc tháo dỡ? Ai quyết định khôi phục hiện trạng? Chính quyền cơ sở phải làm gì khi hành vi đầu cơ đã tạo ra hàng loạt giao dịch với người dân?”

1. TÓM TẮT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ

Ông Nguyễn Văn A, trú tại xã B, tỉnh C, nhận thấy một khu vực đất nông nghiệp nằm gần tuyến đường liên xã có giá đất tăng nhanh.

Ông A bắt đầu thỏa thuận mua, nhận chuyển nhượng hoặc hợp tác với một số hộ dân có đất liền kề.

Khu vực này có khoảng 12 thửa đất nông nghiệp, thuộc quyền sử dụng của nhiều hộ gia đình khác nhau.

Sau khi tập hợp được quyền sử dụng đất của một số thửa, ông A cho máy xúc vào mở một tuyến đường rộng khoảng 5–6 mét, chạy xuyên qua nhiều thửa đất.

Một phần đường được đổ đất đá, một số đoạn được san nền, dựng cọc và lắp hệ thống thoát nước.

Ông A sau đó chia khu đất thành nhiều “lô” nhỏ và đăng thông tin:

“Đất nền khu dân cư – đường ô tô 5 mét – vị trí đẹp – chuẩn bị lên thổ cư.”

Một số khách hàng bắt đầu đặt cọc.

Tuy nhiên, khi phát hiện việc mở đường, các hộ dân có đất bị con đường cắt qua phản đối.

Họ cho rằng:

  • Không đồng ý cho ông A mở đường;
  • Không chuyển nhượng phần đất dành làm đường;
  • Không hiến đất;
  • Không ký văn bản xác lập quyền sử dụng lối đi;
  • Việc san lấp làm thay đổi hiện trạng đất nông nghiệp;
  • Đường được mở nhằm phục vụ việc phân lô, bán nền, chứ không phải phục vụ nhu cầu đi lại chung đã được xác lập.

UBND xã B tiến hành kiểm tra và xác định:

  • Tuyến đường không nằm trong hệ thống đường giao thông được cơ quan có thẩm quyền đầu tư hoặc công nhận;
  • Việc sử dụng đất để mở đường có dấu hiệu không phù hợp với mục đích sử dụng đất được Nhà nước giao;
  • Chưa có hồ sơ thể hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định;
  • Việc phân lô bán nền chưa được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận theo quy định;
  • Một số thửa đất của các hộ khác bị san gạt, làm biến đổi hiện trạng.

UBND xã yêu cầu ông A dừng việc thi công.

Ông A không chấp hành và tiếp tục cho máy móc san đường.

Từ đây phát sinh câu hỏi:

Cơ quan nào có thẩm quyền cưỡng chế phá dỡ tuyến đường do ông A tự ý mở và buộc khôi phục lại tình trạng đất nông nghiệp ban đầu?

2. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – “LÁ CHẮN VỮNG CHẮC”

2.1. “Đường đi chung” không phải cứ tự mở là đương nhiên trở thành đường hợp pháp

Đây là nhận thức đầu tiên cần làm rõ.

Một người có thể có nhu cầu mở lối đi để phục vụ việc sử dụng đất của mình.

Nhưng: Nhu cầu đi lại của cá nhân không đồng nghĩa với quyền tự ý biến đất nông nghiệp của nhiều hộ thành một tuyến đường phục vụ kinh doanh bất động sản.

Nếu tuyến đường đi qua đất của người khác thì trước hết phải có căn cứ pháp lý về quyền sử dụng đất hoặc quyền đối với bất động sản liền kề, chẳng hạn thỏa thuận hợp pháp về lối đi hoặc quyền về lối đi qua bất động sản liền kề theo Bộ luật Dân sự.

Nếu không có sự đồng ý hoặc căn cứ pháp luật thích hợp mà tự ý chiếm dụng, san gạt đất của người khác thì có thể phát sinh tranh chấp dân sự và trách nhiệm hành chính tương ứng.

2.2. Mục đích sử dụng đất mới là “điểm khóa” của vụ việc

Giả sử các thửa đất ban đầu đều là:

Đất trồng cây lâu năm hoặc đất trồng cây hằng năm.

Ông A không thể chỉ vì tự mở đường mà mặc nhiên biến phần đất đó thành:

“đất giao thông khu dân cư”

hoặc:

“hạ tầng khu dân cư.”

Luật Đất đai 2024 đặt ra nguyên tắc sử dụng đất đúng mục đích và việc chuyển mục đích sử dụng đất trong những trường hợp luật định phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Luật Đất đai 2024 hiện là nền tảng pháp lý chính về quản lý, sử dụng và chuyển mục đích đất.

Do đó, hành vi:

Đất nông nghiệp

→ san gạt

→ mở đường

→ phục vụ phân lô

cần được kiểm tra dưới góc độ:

Có làm thay đổi mục đích sử dụng đất trái pháp luật hay không?

2.3. Mở đường để phân lô bán nền có thể tạo ra nhiều hành vi vi phạm độc lập

Không nên nhìn toàn bộ sự việc như chỉ có một hành vi: “Tự ý mở đường.” Trên thực tế có thể tồn tại đồng thời:

Hành vi 1: Tự ý sử dụng đất không đúng mục đích.

Hành vi 2: Tự ý san lấp, làm thay đổi hiện trạng đất.

Hành vi 3: Tác động vào đất thuộc quyền sử dụng của người khác.

Hành vi 4: Xây dựng công trình/hạ tầng không phù hợp quy hoạch hoặc không có giấy phép khi pháp luật yêu cầu.

Hành vi 5: Phân lô, chuyển nhượng đất khi chưa đáp ứng điều kiện.

Hành vi 6: Quảng cáo, nhận đặt cọc, cam kết về khả năng chuyển mục đích hoặc “lên thổ cư” khi chưa có căn cứ pháp lý.

Vì vậy, chính quyền phải tách từng hành vi để xử lý, không nên chỉ lập một biên bản chung chung rằng: “Ông A tự ý mở đường.”

2.4. Nghị định 123/2024/NĐ-CP là căn cứ quan trọng về xử phạt vi phạm đất đai

Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và có hiệu lực từ ngày 04/10/2024.

Trong tình huống này, cơ quan có thẩm quyền cần xác định chính xác hành vi:

  • Sử dụng đất không đúng mục đích;
  • Lấn, chiếm đất;
  • Hủy hoại đất;
  • Vi phạm quy định về chuyển mục đích;
  • Hoặc hành vi khác theo hồ sơ thực tế.

Đây là bước rất quan trọng vì mỗi hành vi có căn cứ xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả khác nhau.

2.5. “Khôi phục nguyên trạng” chính là biện pháp khắc phục hậu quả

Nếu hành vi vi phạm làm thay đổi tình trạng đất thì pháp luật xử lý vi phạm hành chính cho phép áp dụng biện pháp:

Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.

Đây không phải là một “hình phạt phụ” tùy tiện.

Nó là biện pháp khắc phục hậu quả nhằm đưa đất trở lại trạng thái phù hợp với pháp luật.

Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định người vi phạm phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong quyết định xử lý và phải chịu chi phí thực hiện; nếu không tự nguyện chấp hành thì có thể bị cưỡng chế. Điều 85 và Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính là những căn cứ nền tảng cho cơ chế này.

2.6. Vậy cơ quan nào có quyền cưỡng chế?

Đây là câu hỏi trọng tâm của tình huống.

Cần phân biệt:

“Cơ quan phát hiện vi phạm”

với:

“Người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt”

và:

“Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế.”

Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay, thẩm quyền về đất đai đã được phân định lại theo Nghị định 151/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

Do đó, không nên áp dụng máy móc cách trả lời cũ:

“UBND huyện sẽ xử lý.”

Trong tình huống năm 2026, phải kiểm tra thẩm quyền cụ thể của UBND cấp xã, UBND cấp tỉnh và cơ quan chuyên môn theo quy định phân cấp, phân quyền hiện hành.

2.7. UBND cấp xã có vai trò đầu tiên trong quản trị địa bàn

UBND xã B là nơi trực tiếp quản lý địa bàn và có trách nhiệm:

  • Phát hiện vi phạm;
  • Kiểm tra hiện trạng;
  • Lập biên bản theo thẩm quyền;
  • Ngăn chặn hành vi tiếp diễn;
  • Xử lý hoặc chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền;
  • Theo dõi việc chấp hành;
  • Kiến nghị áp dụng biện pháp cưỡng chế nếu người vi phạm không tự nguyện thực hiện.

Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã hiện nay được đặt trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp theo Nghị định 150/2025/NĐ-CP.

Do đó:

Không thể để chính quyền cơ sở đứng ngoài cuộc với lý do “đây là tranh chấp đất của người dân”.

Nếu có dấu hiệu vi phạm hành chính về sử dụng đất hoặc xây dựng, chính quyền phải chủ động kiểm tra và xử lý theo thẩm quyền.

2.8. Cưỡng chế không đồng nghĩa với việc cán bộ xã tự ý mang máy xúc đến phá đường

Đây là một ranh giới cực kỳ quan trọng.

Chính quyền không được: “Thấy đường làm trái phép → cho máy xúc vào phá ngay.”

Muốn cưỡng chế phải có:

  1. Xác định hành vi vi phạm;
  2. Biên bản vi phạm;
  3. Quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo căn cứ pháp luật;
  4. Xác định thời hạn tự nguyện chấp hành;
  5. Người vi phạm không chấp hành;
  6. Quyết định cưỡng chế của người có thẩm quyền;
  7. Tổ chức cưỡng chế theo đúng trình tự.

Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định cưỡng chế được áp dụng khi cá nhân, tổ chức không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt; một trong các biện pháp cưỡng chế là buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.

2.9. Nếu tuyến đường có yếu tố xây dựng thì phải xử lý thêm theo pháp luật xây dựng

Trong tình huống ông A:

  • san nền;
  • đổ bê tông;
  • xây cống;
  • dựng tường;
  • làm hệ thống thoát nước;
  • xây các hạng mục hạ tầng;

thì không thể chỉ xem xét dưới góc độ đất đai.

Nghị định 175/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung về quản lý hoạt động xây dựng.

Nếu có công trình xây dựng vi phạm, cơ quan có thẩm quyền về xây dựng phải xác định:

  • Công trình có thuộc diện phải xin phép không;
  • Có phù hợp quy hoạch không;
  • Có xây dựng trên đất phù hợp mục đích không;
  • Có vi phạm chỉ giới, hành lang hoặc quy hoạch không.

Từ đó có thể phát sinh một nhánh xử lý riêng về xây dựng.

2.10. Đừng nhầm “đường đi chung” với “đường giao thông được Nhà nước công nhận”

Một trong những thủ thuật thường gặp của hoạt động phân lô tự phát là đặt tên: “đường nội bộ” hoặc: “đường dân sinh” rồi sử dụng tên gọi đó để quảng cáo bất động sản. Nhưng: Tên gọi do người dân đặt không làm phát sinh tư cách pháp lý của công trình.

Muốn xác định đó là đường giao thông hợp pháp cần xem xét:

  • Quy hoạch;
  • Hồ sơ đất;
  • Quyết định đầu tư;
  • Hồ sơ xây dựng;
  • Hồ sơ hiến đất/chuyển nhượng;
  • Quyền sử dụng đất;
  • Hồ sơ quản lý giao thông;
  • Quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

2.11. Nếu người dân đã bán “đất nền” thì câu chuyện trở nên nghiêm trọng hơn

Giả sử ông A đã:

  • chia 20 lô;
  • nhận tiền đặt cọc;
  • quảng cáo “đất ở”;
  • cam kết “sẽ lên thổ cư”;
  • hứa “đường 6 mét được Nhà nước công nhận”.

Khi đó, ngoài vấn đề đất đai còn có thể phát sinh:

Tranh chấp hợp đồng

Người mua yêu cầu:

  • hoàn tiền;
  • phạt cọc;
  • bồi thường;
  • hủy hợp đồng.

Xử phạt hành chính

Nếu có hành vi vi phạm pháp luật đất đai, xây dựng, kinh doanh bất động sản hoặc quảng cáo.

Trách nhiệm dân sự

Nếu người bán cố ý cung cấp thông tin sai gây thiệt hại.

Trách nhiệm hình sự

Chỉ đặt ra nếu hành vi có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự; không được mặc nhiên coi mọi trường hợp phân lô bán nền trái phép là tội phạm.

3. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ – “CHÌA KHÓA NHÂN VĂN”

3.1. Tâm lý đầu cơ thường bắt đầu từ một suy nghĩ rất đơn giản

Ông A có thể nghĩ:

“Đất ruộng bây giờ rẻ, mua gom lại rồi mở đường, chia nhỏ ra bán sẽ lời gấp nhiều lần.”

Từ đó hình thành một chuỗi tâm lý:

Mua gom đất

Tự mở đường

Tạo mặt bằng

Quảng cáo khu dân cư

Đẩy giá

Nhận tiền đặt cọc

Tìm cách hợp thức hóa sau.

Nguy hiểm nhất là tâm lý:

“Làm trước, hợp thức hóa sau.”

3.2. Đầu cơ đất đai không chỉ gây thiệt hại cho Nhà nước

Một tuyến đường tự mở có thể gây ra:

  • Phá vỡ quy hoạch;
  • Chia cắt thửa đất nông nghiệp;
  • Khó khăn cho sản xuất;
  • Thay đổi dòng chảy;
  • Ngập úng;
  • Mất đất sản xuất;
  • Phát sinh tranh chấp lối đi;
  • Hình thành khu dân cư tự phát;
  • Tăng áp lực lên điện, nước, rác thải;
  • Người mua đất không có hạ tầng hợp pháp.

Về lâu dài, chính quyền có thể phải giải quyết hậu quả mà người đầu cơ đã tạo ra nhưng lợi nhuận đã thu về từ trước.

3.3. Chính quyền cơ sở phải tránh hai thái cực

Thái cực thứ nhất:

“Không biết – không thấy – không xử lý.”

Đây là điều nguy hiểm.

Một con đường tự phát ban đầu chỉ dài 50 mét.

Nếu không xử lý:

50 m → 100 m → 500 m → cả khu dân cư tự phát.

Thái cực thứ hai:

“Cứ phá ngay là xong.”

Cũng không đúng.

Nếu cưỡng chế không đúng trình tự, chính quyền có thể phát sinh:

  • Khiếu nại;
  • Khởi kiện;
  • Yêu cầu bồi thường;
  • Tranh chấp tài sản;
  • Tranh chấp quyền sử dụng đất.

Quản trị tốt phải là:

Phát hiện sớm – xác minh nhanh – xử lý đúng thẩm quyền – cưỡng chế đúng quy trình.

3.4. Giáo dục pháp luật phải đánh vào “lợi nhuận kỳ vọng”

Tuyên truyền:

“Không được vi phạm pháp luật.”

thường không đủ sức ngăn đầu cơ.

Cần cho người dân hiểu:

Chi phí của việc làm đường trái phép có thể lớn hơn rất nhiều lợi nhuận kỳ vọng.

Ví dụ:

Tiền san lấp

tiền làm đường

tiền tháo dỡ

tiền khôi phục đất

tiền phạt

tiền hoàn trả khách hàng

phạt cọc

bồi thường thiệt hại

chi phí tranh tụng

=

một thương vụ đầu cơ có thể biến thành khoản lỗ khổng lồ.

Đó mới là cách giáo dục pháp luật có tính phòng ngừa.

3.5. Người dân mua đất cũng phải thay đổi tư duy

Không nên thấy quảng cáo:

“Đất nền giá rẻ – đường 5 mét – sắp lên thổ cư”

là đặt cọc ngay.

Trước khi mua phải kiểm tra:

  • Loại đất hiện tại;
  • Quy hoạch;
  • Kế hoạch sử dụng đất;
  • Khả năng chuyển mục đích;
  • Điều kiện tách thửa;
  • Đường giao thông có hợp pháp không;
  • Có nằm trong hành lang bảo vệ công trình không;
  • Có tranh chấp không;
  • Người bán có thực sự có quyền đối với phần đất làm đường không.

Một con đường nhìn thấy bằng mắt chưa chắc là một con đường tồn tại về mặt pháp lý.

4. GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CỦA CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG

Theo Chuyên gia Nguyễn Hữu Long, với tình huống ông A tự mở đường xuyên qua nhiều thửa đất nông nghiệp để phân lô bán nền, không nên chỉ hỏi:

“Ai phá đường?”

mà phải đặt thành một quy trình:

“Ai xác minh – ai xử phạt – ai ra quyết định khắc phục – ai ra quyết định cưỡng chế – ai tổ chức cưỡng chế – ai chịu chi phí?”

BƯỚC 1: LẬP “BẢN ĐỒ VI PHẠM”

Cơ quan cơ sở cần đo đạc và lập hồ sơ hiện trạng:

  • Tuyến đường dài bao nhiêu?
  • Rộng bao nhiêu?
  • Đi qua thửa nào?
  • Diện tích từng thửa bị ảnh hưởng?
  • Ai đang sử dụng?
  • Có san lấp không?
  • Có đổ bê tông không?
  • Có cống thoát nước không?
  • Có công trình phụ trợ không?

Không nên xử lý bằng nhận định:

“Ông A làm đường trái phép.”

Mà phải xác định:

“Hành vi cụ thể nào đã xảy ra trên diện tích nào?”

BƯỚC 2: XÁC ĐỊNH TỪNG CHỦ SỬ DỤNG ĐẤT

Nếu đường đi qua 10 thửa đất thì phải xác định:

  • Thửa nào thuộc ông A;
  • Thửa nào thuộc hộ B;
  • Thửa nào thuộc hộ C;
  • Ai đồng ý;
  • Ai không đồng ý;
  • Có hợp đồng chuyển nhượng không;
  • Có thỏa thuận lối đi không.

Điều này đặc biệt quan trọng để tránh việc một người tự nhận quyền đối với toàn bộ tuyến đường.

BƯỚC 3: KIỂM TRA QUY HOẠCH VÀ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT

Cần trả lời:

Câu hỏi 1: Tuyến đường có nằm trong quy hoạch giao thông không?

Câu hỏi 2: Có nằm trong quy hoạch xây dựng khu dân cư không?

Câu hỏi 3: Đất hiện tại là đất gì?

Câu hỏi 4: Việc sử dụng đất làm đường có phù hợp với mục đích được giao/công nhận không?

Câu hỏi 5: Có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không?

Câu hỏi 6: Có dự án được phê duyệt không?

Nếu không có:

Không thể dùng lý do “đường phục vụ dân cư” để tự động hợp thức hóa hành vi.

BƯỚC 4: ĐÌNH CHỈ NGAY VIỆC SAN LẤP, MỞ RỘNG

Nếu hành vi đang diễn ra, phải ưu tiên:

Ngăn chặn hậu quả tiếp tục phát sinh.

Không nên chờ đến khi:

  • đường làm xong;
  • 20 lô đã phân chia;
  • 15 người đã đặt cọc;
  • nhà đã xây.

Lúc đó chi phí xã hội để xử lý sẽ lớn hơn rất nhiều.

BƯỚC 5: XỬ PHẠT ĐÚNG HÀNH VI, ĐÚNG THẨM QUYỀN

Nghị định 123/2024/NĐ-CP là căn cứ chính về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Cần căn cứ hành vi cụ thể để xác định:

  • mức phạt;
  • biện pháp khắc phục;
  • thẩm quyền xử phạt;
  • thời hiệu;
  • tình tiết tăng nặng/giảm nhẹ.

Đặc biệt, Nghị định 281/2026/NĐ-CP đã được ban hành để sửa đổi Nghị định 123/2024/NĐ-CP, nhưng đến ngày 09/8/2026 vẫn chưa có hiệu lực; ngày có hiệu lực được xác định là 31/8/2026. Vì vậy, khi lập hồ sơ xử lý tại thời điểm hiện nay phải áp dụng đúng văn bản đang có hiệu lực, đồng thời lưu ý thay đổi từ ngày 31/8/2026.

BƯỚC 6: BAN HÀNH BIỆN PHÁP BUỘC KHÔI PHỤC HIỆN TRẠNG

Nếu xác định hành vi vi phạm làm thay đổi hiện trạng đất thì quyết định xử lý cần xem xét biện pháp: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu.

Ví dụ:

Đường đất được san cao hơn mặt ruộng

→ tháo dỡ vật liệu

→ hoàn trả mặt bằng

→ khôi phục cao độ phù hợp.

Nếu có:

Bê tông

→ tháo dỡ bê tông

→ thu gom vật liệu

→ khôi phục đất.

Nếu có:

Cống, rãnh, vật cản

→ xử lý theo từng hạng mục.

Người vi phạm phải chịu chi phí khắc phục theo quy định về thi hành biện pháp khắc phục hậu quả. Điều 85 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định cá nhân, tổ chức vi phạm phải thực hiện biện pháp khắc phục và chịu chi phí; nếu không thực hiện thì có thể bị cưỡng chế.

BƯỚC 7: NẾU KHÔNG TỰ NGUYỆN → RA QUYẾT ĐỊNH CƯỠNG CHẾ

Đây mới là thời điểm xuất hiện câu hỏi: “Ai có quyền cưỡng chế?”

Theo Điều 86 và Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính, cưỡng chế được áp dụng khi quyết định không được tự nguyện chấp hành; Chủ tịch UBND các cấp là một trong các chủ thể có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế theo quy định.

Tuy nhiên, trong năm 2026, phải đối chiếu phân định thẩm quyền chính quyền địa phương 2 cấp theo Nghị định 151/2025/NĐ-CP và các quy định chuyên ngành hiện hành để xác định chính xác chủ thể ra quyết định trong từng loại vi phạm.

Vì vậy, câu trả lời an toàn về mặt pháp lý không phải là:

“Cứ UBND xã ra lệnh phá đường.”

mà là:

“Cơ quan/người có thẩm quyền xử phạt và cưỡng chế phải được xác định theo hành vi vi phạm cụ thể và quy định phân cấp, phân quyền hiện hành.”

BƯỚC 8: CƠ QUAN CƠ SỞ TỔ CHỨC CƯỠNG CHẾ, KHÔNG ĐỂ NGƯỜI DÂN TỰ “PHÁ ĐƯỜNG”

Một sai lầm rất dễ xảy ra là: “Đường nằm trên đất của hộ B thì hộ B tự phá.”

Không nên khuyến khích cách này nếu đã có quyết định xử lý hành chính.

Việc cưỡng chế phải do cơ quan có thẩm quyền tổ chức theo trình tự pháp luật, có lực lượng phối hợp khi cần thiết.

Điều này nhằm tránh:

  • xô xát;
  • gây thương tích;
  • phá hoại tài sản;
  • tranh chấp mới;
  • người dân bị xử lý vì tự ý hủy tài sản.

BƯỚC 9: XỬ LÝ LUÔN “ĐƯỜNG DÂY PHÂN LÔ BÁN NỀN”

Đây là điểm mà Chuyên gia Nguyễn Hữu Long đặc biệt nhấn mạnh.

Nếu chỉ phá đường mà không kiểm tra hoạt động phân lô thì: “Con đường này bị phá, nhưng ngày mai ông A lại mở một con đường khác.”

Do đó cần kiểm tra:

  • quảng cáo bất động sản;
  • hợp đồng đặt cọc;
  • hợp đồng chuyển nhượng;
  • danh sách người mua;
  • tiền đã nhận;
  • hồ sơ tách thửa;
  • hồ sơ xin chuyển mục đích;
  • tài liệu cam kết “sắp lên thổ cư”;
  • môi giới tham gia.

Mục tiêu là:

Xử lý cả mô hình đầu cơ, không chỉ xử lý một đoạn đường.

BƯỚC 10: XÂY DỰNG CƠ CHẾ “CẢNH BÁO ĐẤT NỀN TỰ PHÁT”

Đối với địa bàn có nguy cơ phân lô bán nền, chính quyền cơ sở nên công khai:

Danh sách khu vực:

  • chưa được phép chuyển mục đích;
  • chưa được tách thửa;
  • không có quy hoạch khu dân cư;
  • đường chưa được công nhận;
  • có tranh chấp;
  • đang bị xử lý vi phạm.

Đồng thời tổ chức tuyên truyền: “Không đặt cọc đất nền khi chưa kiểm tra pháp lý.”

Đây là biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn rất nhiều so với việc chờ người dân mất tiền rồi mới giải quyết tranh chấp.

BƯỚC 11: NẾU CÓ DẤU HIỆU TRỤC LỢI, GIAN DỐI → CHUYỂN HỒ SƠ

Nếu quá trình xác minh cho thấy ông A:

  • cố ý cung cấp thông tin gian dối;
  • sử dụng giấy tờ giả;
  • huy động tiền của nhiều người;
  • biết rõ đất không đủ điều kiện nhưng vẫn nhận tiền;
  • chiếm đoạt tài sản;

thì cơ quan chức năng phải xem xét dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự.

Tuy nhiên, cần tuân thủ nguyên tắc:

Có dấu hiệu thì xác minh; có đủ yếu tố cấu thành mới xử lý hình sự.

Không được hình sự hóa mọi tranh chấp dân sự hoặc vi phạm hành chính. 

GÓC NHÌN CHUYÊN GIA:

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc tương tự về đất đai hoặc học đường, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

Từ khoá: Tư vấn; Luật đất đai; Bộ luật dân sự; Giải pháp.

Để lại một bình luận