BỆNH VIỆN SẢN NHI ĐỂ XẢY RA SỰ CỐ HỎNG HỆ THỐNG LỌC KHÍ VÔ TRÙNG PHÒNG MỔ ĐẺ LÀM 5 SẢN PHỤ NHIỄM TRÙNG VẾT MỔ SÂU, HOẠI TỬ TỬ CUNG DO LỖI TRỐN CHI PHÍ THAY MÀNG LỌC HEPA?
Trong môi trường bệnh viện, một thiết bị kỹ thuật tưởng như nằm phía sau cánh cửa phòng máy lại có thể liên quan trực tiếp đến an toàn của người bệnh. Đặc biệt với phòng phẫu thuật sản khoa, nơi các ca sinh mổ và thủ thuật xâm lấn diễn ra thường xuyên, yêu cầu kiểm soát nhiễm khuẩn không chỉ nằm ở tay nghề của bác sĩ hay điều dưỡng mà còn phụ thuộc vào cả một hệ thống: vệ sinh, tiệt khuẩn, thông khí, thiết bị, vật tư và quy trình giám sát.
Giả định một bệnh viện sản nhi phát hiện hệ thống lọc khí của phòng mổ gặp sự cố trong thời gian dài nhưng không được xử lý đúng quy trình. Sau đó, nhiều sản phụ xuất hiện nhiễm trùng vết mổ và phải điều trị kéo dài. Nếu cơ quan chuyên môn tiếp tục xác định nguyên nhân có liên quan đến việc cố tình trì hoãn thay thế vật tư kỹ thuật vì muốn cắt giảm chi phí vận hành, vấn đề lúc này không còn đơn thuần là một lỗi kỹ thuật.
Đó có thể là câu chuyện về trách nhiệm quản trị, trách nhiệm nghề nghiệp và, tùy tính chất, mức độ hậu quả cùng chứng cứ thu thập được, cả trách nhiệm pháp lý của những người có liên quan.
I. BỐI CẢNH THỰC TẾ
Hãy hình dung một tình huống: bệnh viện có hệ thống thông khí và lọc khí cho khu vực phẫu thuật. Bộ phận kỹ thuật đã ghi nhận thiết bị cần được bảo trì, thay thế vật tư lọc theo định kỳ. Tuy nhiên, vì lý do kinh phí, việc thay thế bị trì hoãn. Các cảnh báo kỹ thuật không được xử lý đầy đủ, việc kiểm tra chất lượng môi trường phòng mổ cũng không được thực hiện đúng mức.
Trong thời gian đó, một số sản phụ sau sinh mổ xuất hiện dấu hiệu nhiễm trùng vết mổ. Có người phải điều trị kháng sinh dài ngày, có trường hợp phải thực hiện thêm can thiệp y tế. Nếu số ca bất thường gia tăng trong cùng một khoảng thời gian, bệnh viện phải đặt câu hỏi rất nghiêm túc: đây có phải là một cụm nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế hay không, nguyên nhân từ đâu và hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn đã vận hành như thế nào?
Điểm cần lưu ý là không thể chỉ dựa vào việc “màng lọc HEPA đã cũ” để kết luận rằng đó chính là nguyên nhân gây nhiễm trùng. Nhiễm khuẩn sau phẫu thuật có thể liên quan đến nhiều yếu tố. Muốn xác định quan hệ nhân quả cần có đánh giá chuyên môn, hồ sơ kiểm soát nhiễm khuẩn, dữ liệu vi sinh, tình trạng thiết bị, điều kiện phòng mổ và các tài liệu liên quan.
Tuy nhiên, nếu điều tra cho thấy người có trách nhiệm đã biết hệ thống không bảo đảm yêu cầu nhưng vẫn cho phòng mổ tiếp tục hoạt động, thậm chí chủ động cắt giảm chi phí bảo trì dù đã có cảnh báo, thì đây là dấu hiệu quản trị rủi ro rất đáng quan ngại.
Theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm thực hiện các quy định về chuyên môn kỹ thuật và bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của người bệnh. Luật cũng quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trong đó bao gồm việc bảo đảm cơ sở vật chất, thiết bị và điều kiện vệ sinh phù hợp với yêu cầu kiểm soát nhiễm khuẩn.
Ở góc nhìn của tôi, đây chính là điểm mà nhiều cơ sở y tế cần nhìn lại: an toàn người bệnh không bắt đầu từ lúc bác sĩ cầm dao mổ. Nó bắt đầu từ khâu lập kế hoạch bảo trì, mua sắm vật tư, kiểm định thiết bị và cả quyết định của người quản lý khi nhận được một cảnh báo kỹ thuật.
II. GÓC NHÌN PHÁP LÝ
Về kiểm soát nhiễm khuẩn, Thông tư 16/2018/TT-BYT quy định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải xây dựng, phê duyệt và phổ biến các quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn; giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện; kiểm tra việc tuân thủ các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn, đặc biệt trong phẫu thuật, thủ thuật và các kỹ thuật xâm lấn. Quy định này cũng đặt ra yêu cầu quản lý hóa chất, vật tư dùng trong kiểm soát nhiễm khuẩn và trách nhiệm của hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện.
Điều 62 Luật Khám bệnh, chữa bệnh quy định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải thực hiện các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn và bảo đảm cơ sở vật chất, thiết bị, trang phục phòng hộ, điều kiện vệ sinh phù hợp với yêu cầu kiểm soát nhiễm khuẩn. Đây là căn cứ quan trọng để đánh giá trách nhiệm của bệnh viện khi xảy ra sự cố liên quan đến điều kiện an toàn trong phẫu thuật.
Đối với trách nhiệm hình sự, Điều 360 Bộ luật Hình sự quy định về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Người có chức vụ, quyền hạn nếu vì thiếu trách nhiệm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao và gây ra hậu quả thuộc các trường hợp luật định thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khung cơ bản của điều luật là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm; tùy hậu quả và tình tiết, các khung hình phạt cao hơn có thể được áp dụng.
Như vậy, không thể nói cứ xảy ra nhiễm trùng sau phẫu thuật là trưởng phòng quản trị vật tư hoặc giám đốc bệnh viện đương nhiên phạm tội theo Điều 360. Cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ ít nhất các vấn đề: người đó có chức vụ, quyền hạn và nhiệm vụ cụ thể gì; đã biết hoặc phải biết tình trạng thiết bị ra sao; có nghĩa vụ bảo trì, thay thế hay yêu cầu dừng sử dụng hay không; hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ có vi phạm quy định cụ thể nào; hậu quả sức khỏe thực tế của người bệnh và đặc biệt là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi thiếu trách nhiệm với hậu quả đó.
Nếu chưa đủ căn cứ hình sự, hành vi vi phạm vẫn có thể dẫn đến các hình thức xử lý hành chính, kỷ luật, trách nhiệm dân sự hoặc các biện pháp khắc phục khác tùy từng trường hợp.
Về trách nhiệm của bệnh viện đối với người bệnh, Luật Khám bệnh, chữa bệnh xác định tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh có thể phát sinh giữa người bệnh, người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Các bên có thể hòa giải; nếu hòa giải không thành thì có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định pháp luật.
Do đó, nếu có căn cứ xác định việc vận hành cơ sở không bảo đảm yêu cầu chuyên môn gây thiệt hại cho người bệnh, trách nhiệm bồi thường không nên bị xem nhẹ chỉ vì bệnh viện đã có quy trình nội bộ. Một quy trình tồn tại trên giấy không đồng nghĩa với việc trách nhiệm đã được thực hiện trên thực tế.
Đối với đề xuất “Bộ Y tế đóng cửa khoa sản, cảnh cáo hoặc cách chức ban giám đốc”, cần hiểu đúng thẩm quyền. Việc đình chỉ hoặc hạn chế hoạt động, xử phạt, xử lý kỷ luật hay áp dụng biện pháp khắc phục phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, thẩm quyền của cơ quan quản lý và tính chất vi phạm. Không có căn cứ để mặc nhiên khẳng định một sự cố sẽ dẫn tới cách chức hoặc đóng cửa khoa sản.
III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ
Một ca sinh đáng lẽ phải là thời điểm gia đình đón nhận một thành viên mới. Nếu sau đó người mẹ phải quay lại bệnh viện vì nhiễm trùng vết mổ, đau đớn, điều trị kéo dài hoặc tiếp tục phẫu thuật, tổn thất không chỉ nằm ở tiền viện phí.
Có những hậu quả khó đo bằng một con số. Người mẹ có thể lo sợ mỗi khi nghĩ đến lần sinh tiếp theo. Người chồng và gia đình có thể mất niềm tin vào bệnh viện. Một sự cố y khoa nếu không được giải thích minh bạch còn dễ tạo ra tâm lý nghi ngờ, bức xúc và lan truyền thông tin thiếu kiểm chứng trong cộng đồng.
Ở góc độ giáo dục pháp luật, điều quan trọng là không biến một sự cố thành câu chuyện “tìm một người để đổ lỗi”. Mục tiêu phải là xác định đúng trách nhiệm và tìm ra lỗ hổng để không tái diễn.
Nếu một kỹ thuật viên đã nhiều lần báo thiết bị xuống cấp nhưng đề xuất thay thế không được phê duyệt, trách nhiệm có thể nằm ở nhiều tầng quản trị. Nếu bộ phận chuyên môn không phát hiện nguy cơ, bộ phận kiểm soát nhiễm khuẩn không cảnh báo, người phụ trách cơ sở vẫn cho phép sử dụng phòng mổ trong điều kiện không bảo đảm, mỗi mắt xích đều cần được xem xét dựa trên nhiệm vụ được giao.
Đây là tư duy quản trị mà tôi cho rằng các bệnh viện cần đặc biệt chú trọng: đừng chỉ kiểm tra xem “ai làm sai”, mà phải kiểm tra cả “vì sao hệ thống cho phép sai sót tiếp tục tồn tại”.
Thông tư 16/2018/TT-BYT đã đặt ra cơ chế giám sát nhiễm khuẩn, hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn và trách nhiệm tham mưu cho người đứng đầu cơ sở. Bên cạnh đó, Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn về thông khí môi trường trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại Quyết định 2991/QĐ-BYT năm 2025, cho thấy vấn đề môi trường và thông khí trong cơ sở y tế cần được tiếp cận như một thành phần của quản lý chất lượng và an toàn người bệnh.
Một bệnh viện hiện đại không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm của từng cá nhân. Hệ thống phải có cảnh báo, nhật ký bảo trì, người chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý và cơ chế dừng hoạt động khi điều kiện an toàn không còn được bảo đảm.
IV. KHUYẾN NGHỊ TỪ CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG
Từ góc nhìn pháp lý, tâm lý và quản trị, tôi cho rằng sự cố liên quan đến nhiễm khuẩn sau phẫu thuật cần được xử lý theo nguyên tắc “bảo vệ người bệnh trước, xác định trách nhiệm sau nhưng phải làm đến nơi đến chốn”.
Trước hết, bệnh viện cần kịp thời rà soát và đánh giá toàn bộ điều kiện kiểm soát nhiễm khuẩn tại khu vực xảy ra sự cố. Không nên chỉ thay một bộ phận thiết bị rồi coi sự việc đã kết thúc. Cần kiểm tra hồ sơ bảo trì, nhật ký vận hành, kết quả kiểm tra môi trường, dữ liệu vi sinh, hồ sơ phẫu thuật và các quy trình liên quan để xác định chuỗi sự kiện.
Nếu phát hiện dấu hiệu bất thường, cơ sở cần chủ động báo cáo cơ quan quản lý có thẩm quyền và phối hợp với cơ quan chuyên môn trong quá trình kiểm tra, đánh giá. Trường hợp phòng mổ hoặc khu vực chuyên môn không đáp ứng điều kiện an toàn, việc tiếp tục sử dụng cần được xem xét theo đúng quy định và thẩm quyền, thay vì vì áp lực số lượng ca bệnh mà bỏ qua cảnh báo.
Đối với người bệnh, cần được thông tin phù hợp về tình trạng sức khỏe, hướng điều trị và quyền yêu cầu cung cấp thông tin, hồ sơ liên quan theo quy định. Người bệnh và gia đình nên lưu giữ bệnh án, phiếu xét nghiệm, đơn thuốc, hóa đơn, chứng từ điều trị và các tài liệu liên quan nếu cho rằng mình bị thiệt hại. Những tài liệu này có thể có giá trị khi làm việc với bệnh viện hoặc khi phát sinh tranh chấp.
Đối với người quản lý, bài học quan trọng hơn cả là không được xem chi phí bảo trì như một khoản có thể tùy tiện cắt giảm. Nếu một vật tư kỹ thuật có vai trò trong kiểm soát môi trường phẫu thuật, việc trì hoãn thay thế phải được đánh giá trên cơ sở an toàn và yêu cầu chuyên môn, chứ không chỉ dựa trên

