THÔNG TƯ 107/2026/TT-BTC: HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ – MINH BẠCH DÒNG TIỀN, TÀI SẢN VÀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI DÂN

12 / 100 Điểm SEO

THÔNG TƯ 107/2026/TT-BTC: HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ – MINH BẠCH DÒNG TIỀN, TÀI SẢN VÀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI DÂN

Dưới góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị

I. TỪ MỘT NGHIỆP VỤ CHUYÊN MÔN ĐẾN YÊU CẦU MINH BẠCH TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Thi hành án dân sự là giai đoạn đặc biệt quan trọng để đưa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật vào đời sống. Một bản án dù được xét xử đúng pháp luật nhưng nếu không được tổ chức thi hành đầy đủ, chính xác, kịp thời thì quyền và lợi ích hợp pháp đã được Tòa án công nhận vẫn có nguy cơ chỉ tồn tại trên giấy.

Trong quá trình thi hành án, rất nhiều khoản tiền và tài sản có thể được thu, chi, quản lý, tạm giữ hoặc xử lý: tiền người phải thi hành án tự nguyện nộp; tiền thu từ cưỡng chế; tiền bán đấu giá tài sản; tiền trả cho người được thi hành án; án phí, lệ phí; tài sản, vật chứng; vàng, bạc, đá quý; ngoại tệ; tiền gửi ngân hàng và nhiều khoản khác.

Chính vì vậy, kế toán nghiệp vụ thi hành án dân sự không đơn thuần là việc ghi chép những con số. Đằng sau mỗi khoản tiền, mỗi tài sản được ghi nhận trong sổ kế toán có thể là quyền tài sản của một cá nhân, doanh nghiệp, quyền lợi của Nhà nước hoặc nghĩa vụ mà một chủ thể phải thực hiện theo bản án.

Ngày 24/7/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 107/2026/TT-BTC hướng dẫn kế toán nghiệp vụ thi hành án dân sự. Ngay tại Điều 1, Thông tư xác định phạm vi điều chỉnh bao gồm chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các nội dung khác liên quan đến nghiệp vụ thi hành án dân sự.

Dưới góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long, ý nghĩa của Thông tư cần được nhìn rộng hơn phạm vi kỹ thuật kế toán:

Minh bạch kế toán trong thi hành án chính là một trong những điều kiện để bảo đảm minh bạch trong thực thi công lý. Tiền và tài sản của người dân được ghi nhận đúng, quản lý đúng, chi trả đúng thì niềm tin của người dân vào pháp luật mới được củng cố.

II. NHỮNG NỘI DUNG PHÁP LÝ QUAN TRỌNG NGƯỜI DÂN VÀ CƠ QUAN THI HÀNH ÁN CẦN BIẾT

1. Xác định rõ phạm vi và chủ thể áp dụng

Điều 2 Thông tư quy định đối tượng áp dụng gồm các cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng; cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, cơ quan thi hành án cấp quân khu và các cơ quan liên quan.

Đáng chú ý, đối với cơ quan thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng, trong trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp thì phải thực hiện các yêu cầu về phân tích tách bạch thông tin, số liệu kế toán nghiệp vụ thi hành án; phối hợp cung cấp thông tin; bảo vệ bí mật nhà nước và tổ chức nhân sự kế toán phù hợp.

Quy định này cho thấy một nguyên tắc quan trọng: dù tổ chức theo mô hình nào thì thông tin kế toán liên quan đến thi hành án vẫn phải rõ ràng, có khả năng kiểm tra và truy xuất.

2. Nguyên tắc kế toán: tuân thủ pháp luật và phản ánh đúng nghiệp vụ thi hành án

Theo Điều 3, cơ quan quản lý thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự phải tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật Kế toán, văn bản hướng dẫn Luật Kế toán, hướng dẫn về kế toán quỹ định tại Thông tư này và các quy định pháp luật thi hành án dân sự có liên quan.

Điều này tạo nên cơ chế kiểm soát kép: hoạt động kế toán vừa phải bảo đảm các nguyên tắc tài chính – kế toán, vừa phải phù hợp với đặc thù của quá trình thi hành bản án, quyết định.

3. Đồng Việt Nam là đơn vị tiền tệ chủ yếu trong kế toán nghiệp vụ thi hành án

Một điểm người dân có thể trực tiếp gặp trong thực tế được quy định tại Điều 4.

Kế toán nghiệp vụ thi hành án dân sự sử dụng Đồng Việt Nam làm đơn vị tiền tệ để ghi sổ kế toán. Ngoại tệ phải được quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá hạch toán thực tế tại ngày ghi sổ, đồng thời được theo dõi theo nguyên tệ.

Thông tư còn đặt ra nguyên tắc đối với trường hợp bản án, quyết định tuyên trả bằng ngoại tệ; trường hợp thu tiền bằng Đồng Việt Nam nhưng phải thanh toán cho người được thi hành án bằng ngoại tệ; cũng như việc quản lý vàng, bạc, đồ cổ, kim khí quý, đá quý.

Đặc biệt, các tài sản này phải được theo dõi về số lượng, trọng lượng và quy ra tiền theo đơn giá hạch toán tại thời điểm ghi sổ, đồng thời theo dõi chi tiết theo từng quyết định thi hành án.

4. Kiểm kê tài sản – một “hàng rào” chống thất thoát và sai lệch

Điều 5 đặt ra yêu cầu kiểm kê đối với số liệu trong két, tài sản, vật chứng bảo quản trong kho nhằm bảo đảm khớp đúng với số liệu ghi trong sổ kế toán tại thời điểm kiểm kê.

Nếu phát hiện chênh lệch, phải kiểm tra, rà soát, tìm nguyên nhân và báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý; kế toán chỉ được điều chỉnh lại số liệu sau khi có văn bản xử lý chênh lệch.

Thông tư quy định cả kiểm kê định kỳ vào cuối quý, cuối niên độ kế toán và kiểm kê bất thường trong những trường hợp như bàn giao, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách đơn vị, kết thúc hoạt động hoặc các trường hợp khác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Đây là một trong những quy định có ý nghĩa rất lớn đối với phòng ngừa thất thoát tài sản thi hành án.

5. Nhiệm vụ kế toán được xác định cụ thể hơn

Theo Điều 6, kế toán nghiệp vụ thi hành án dân sự không chỉ thực hiện việc ghi sổ mà còn phải:

  • thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán;
  • kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi và nghĩa vụ thu, nộp;
  • theo dõi tiền, tài sản tạm giữ và vật chứng;
  • thực hiện xử lý các khoản tiền, tài sản trong quá trình thi hành án;
  • định kỳ hàng tháng, quý, năm đối chiếu chi tiết số thu – chi – nhập – xuất tiền và tài sản;
  • lập, nộp báo cáo tài chính nghiệp vụ thi hành án;
  • phân tích thông tin, số liệu kế toán phục vụ công tác quản lý.

Đối với cơ quan quản lý thi hành án, Thông tư còn đặt ra nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chế độ kế toán, tổng hợp báo cáo và phân tích dữ liệu để phục vụ quản lý toàn hệ thống.

6. Trách nhiệm của Chấp hành viên được gắn chặt với trách nhiệm tài chính

Một điểm rất đáng chú ý nằm tại Điều 7.

Chấp hành viên phải thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc, chế độ, thủ tục liên quan đến tiền, tài sản, vật chứng; cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu liên quan đến thanh toán, xử lý các khoản tiền, tài sản trong quá trình thi hành án và chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự chính xác, trung thực, hợp pháp, hợp lệ của chứng từ, tài liệu cung cấp.

Chấp hành viên còn có trách nhiệm nộp đầy đủ, kịp thời tiền, tài sản thu được vào quỹ tiền mặt, kho hoặc tài khoản theo quy định và định kỳ kiểm tra, đối chiếu số thu – chi trong hoạt động thi hành án.

Như vậy, trách nhiệm tổ chức thi hành án và trách nhiệm quản lý tài sản không thể tách rời nhau.

7. Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh phải có chứng từ

Điều 8 xác lập một nguyên tắc nền tảng:

Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến hoạt động nghiệp vụ thi hành án dân sự đều phải được lập chứng từ kế toán.

Mỗi số liệu ghi trên sổ kế toán phải có chứng từ kế toán hợp lệ, hợp pháp chứng minh.

Thông tư đồng thời cho phép sử dụng chứng từ điện tử trong quá trình thi hành án theo quy định của pháp luật về kế toán và pháp luật giao dịch điện tử.

Đây là bước quan trọng để hoạt động kế toán thi hành án thích ứng với chuyển đổi số nhưng vẫn giữ nguyên nguyên tắc kiểm soát: không có giao dịch “ngoài sổ”, không có khoản thu – chi thiếu căn cứ chứng từ.

8. Chuẩn hóa hệ thống tài khoản kế toán

Điều 9 quy định danh mục, kết cấu, nội dung và phương pháp hạch toán tài khoản kế toán theo hệ thống tài khoản ban hành kèm Thông tư.

Hệ thống tài khoản gồm:

  • tài khoản kế toán trong bảng;
  • tài khoản kế toán ngoài bảng.

Các đơn vị phải căn cứ hệ thống tài khoản được ban hành để lựa chọn tài khoản phù hợp với cơ chế tài chính và hoạt động thực tế; trường hợp cần bổ sung tài khoản chi tiết thì phải bảo đảm yêu cầu quản lý, tính minh bạch và khả năng theo dõi độc lập từng nghiệp vụ.

Phụ lục I của Thông tư còn xây dựng hệ thống tài khoản khá chi tiết cho tiền mặt; tiền gửi ngân hàng, Kho bạc Nhà nước; tiền đang chuyển; tài sản, vật chứng; phải thu của đương sự; tạm ứng; các khoản phải trả; các khoản phải nộp Nhà nước; các khoản tạm giữ chờ xử lý…

9. Sổ kế toán phải bảo đảm khả năng kiểm tra, đối chiếu

Điều 10 yêu cầu các cơ quan thi hành án dân sự mở sổ kế toán để ghi chép, hệ thống hóa và lưu giữ toàn bộ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh.

Đơn vị phải mở đầy đủ sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết; việc ghi sổ phải căn cứ chứng từ hợp lệ, thực hiện theo trình tự và phản ánh đầy đủ các thông tin cần thiết.

Đặc biệt, Thông tư nghiêm cấm để ngoài sổ kế toán bất kỳ khoản thu, chi, tài sản, tiền quỹ, công nợ, vật chứng liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự.

Đây có thể xem là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của toàn bộ Thông tư.

III. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – TÂM LÝ – GIÁO DỤC: MINH BẠCH TÀI CHÍNH CŨNG LÀ MINH BẠCH CÔNG LÝ

Dưới góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long, Thông tư 107/2026/TT-BTC tuy mang tính chuyên môn cao nhưng giá trị xã hội của nó lại rất gần với người dân.

Thứ nhất, về pháp lý, việc chuẩn hóa chứng từ, tài khoản, sổ sách, kiểm kê và báo cáo tạo ra chuỗi dữ liệu có khả năng kiểm chứng. Khi tiền và tài sản thi hành án đi qua từng công đoạn đều được ghi nhận thì nguy cơ nhầm lẫn, thất thoát hoặc khó xác định trách nhiệm sẽ được hạn chế.

Thứ hai, về tâm lý xã hội, một trong những điều đương sự quan tâm nhất không chỉ là “bản án tuyên thế nào”, mà còn là: tiền của tôi đã được thu chưa; tài sản đang ở đâu; khi nào được nhận; số tiền được thanh toán có chính xác hay không? Hệ thống kế toán minh bạch giúp giảm tâm lý nghi ngờ, bất an và củng cố niềm tin đối với cơ quan thực thi pháp luật.

Thứ ba, về giáo dục pháp luật, Thông tư truyền tải một nguyên tắc đáng chú ý: quyền lực công phải đi cùng trách nhiệm giải trình. Người quản lý tiền, tài sản của công dân phải có chứng từ, phải ghi sổ, phải đối chiếu và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin.

Thứ tư, về quản trị, dữ liệu kế toán không chỉ phục vụ quyết toán. Điều 11 yêu cầu báo cáo tài chính nghiệp vụ thi hành án phải cung cấp thông tin về tình hình tài chính và hoạt động nghiệp vụ, phục vụ xem xét, đánh giá quyết định điều hành của cơ quan có thẩm quyền; đồng thời đặt ra trách nhiệm lập, tổng hợp, ký và công khai báo cáo theo quy định.

Điều đó cho thấy tư duy quản trị đang chuyển dần từ “ghi chép để lưu trữ” sang “dữ liệu để kiểm soát, quản lý và ra quyết định”.

IV. NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI THÔNG TƯ 107/2026/TT-BTC ĐƯỢC ÁP DỤNG

Đối với cơ quan thi hành án dân sự, cần chủ động rà soát quy trình nội bộ, hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo; đồng thời bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Chấp hành viên, kế toán, thủ kho, thủ quỹ và người có trách nhiệm quản lý.

Đối với Chấp hành viên, phải đặc biệt coi trọng việc bàn giao tiền, tài sản, chứng từ và thông tin cho bộ phận kế toán đúng thời điểm. Một nghiệp vụ thi hành án đã phát sinh nhưng chưa được chuyển giao đầy đủ cho kế toán có thể dẫn tới sai lệch dữ liệu và khó khăn trong kiểm soát.

Đối với người làm công tác kế toán thi hành án, nguyên tắc cần ghi nhớ là: đúng chứng từ – đúng tài khoản – đúng đối tượng – đúng thời điểm – có khả năng kiểm tra, đối chiếu và truy xuất.

Đối với người dân và doanh nghiệp là đương sự, cần chủ động lưu giữ các chứng từ liên quan đến việc nộp, nhận tiền hoặc bàn giao tài sản; kiểm tra nội dung chứng từ trước khi ký; yêu cầu cung cấp giấy tờ xác nhận phù hợp khi thực hiện nghĩa vụ hoặc nhận quyền lợi thi hành án; kịp thời phản ánh khi phát hiện số tiền, tài sản hoặc thông tin không phù hợp.

Một mốc thời gian đặc biệt quan trọng là: Thông tư 107/2026/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/10/2026 và áp dụng cho kỳ kế toán bắt đầu từ ngày 01/10/2026 đến 31/12/2026 và năm tài chính 2027 trở đi. Đồng thời, Thông tư số 78/2020/TT-BTC hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Thông tư mới có hiệu lực.

THÔNG ĐIỆP NHÂN VĂN

Theo góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long, giá trị sâu xa của Thông tư 107/2026/TT-BTC không nằm ở những con số khô khan trong sổ kế toán, mà nằm ở quyền và lợi ích của con người phía sau những con số ấy.

Một khoản tiền được ghi nhận chính xác có thể là khoản bồi thường mà một gia đình chờ đợi. Một tài sản được quản lý chặt chẽ có thể là thành quả tích lũy của một đời người. Một chứng từ đầy đủ có thể trở thành căn cứ quan trọng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự.

“Kế toán minh bạch để thi hành án minh bạch; thi hành án minh bạch để bản án được thực thi đúng đắn; và khi công lý được thực thi bằng một quy trình có trách nhiệm, niềm tin của người dân vào pháp luật sẽ ngày càng được củng cố.”

Thông tư 107/2026/TT-BTC vì vậy không chỉ đặt ra chuẩn mực nghiệp vụ kế toán mới, mà còn góp phần xây dựng một nền thi hành án dân sự chuyên nghiệp, minh bạch, có trách nhiệm giải trình và lấy quyền, lợi ích hợp pháp của người dân làm trung tâm.

THÔNG TIN LIÊN HỆ: 

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

Để lại một bình luận