Biến đổi khí hậu đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại. Trong bối cảnh thế giới hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero), rừng không còn chỉ được nhìn nhận là tài nguyên thiên nhiên cần bảo vệ mà còn trở thành một “nguồn tài sản xanh” có giá trị kinh tế thông qua khả năng hấp thụ và lưu giữ khí các-bon.
Nhằm cụ thể hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời tạo hành lang pháp lý minh bạch cho việc hình thành và phát triển thị trường các-bon rừng, ngày 21/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng. Nghị định quy định toàn diện về đối tượng tham gia, cơ chế chi trả, quản lý nguồn thu, xây dựng dự án các-bon rừng, xác định kết quả giảm phát thải và cấp tín chỉ các-bon rừng.
Dưới góc nhìn tích hợp Pháp lý – Tâm lý – Giáo dục – Phát triển bền vững của ThS. Nguyễn Hữu Long, Nghị định 180/2026/NĐ-CP không chỉ là một văn bản điều chỉnh hoạt động lâm nghiệp mà còn mở ra một tư duy hoàn toàn mới: bảo vệ rừng không chỉ là trách nhiệm với môi trường mà còn là cơ hội tạo sinh kế, gia tăng thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế xanh cho cộng đồng.
- BỐI CẢNH THỰC TIỄN – KHI “GIỮ RỪNG” KHÔNG CHỈ LÀ TRÁCH NHIỆM MÀ CÒN TRỞ THÀNH GIÁ TRỊ KINH TẾ
Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã đầu tư rất lớn cho công tác bảo vệ và phát triển rừng. Hàng triệu hecta rừng được giao cho các ban quản lý rừng, doanh nghiệp, hộ gia đình và cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại nhiều khó khăn:
- Nguồn kinh phí bảo vệ rừng còn hạn chế, chưa tương xứng với công sức của lực lượng quản lý và người dân sống dựa vào rừng.
- Nhiều cộng đồng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số dù góp phần giữ gìn diện tích rừng nhưng nguồn thu từ rừng còn thấp, chưa tạo được động lực lâu dài để phát triển sinh kế bền vững.
- Trong khi đó, trên thế giới, tín chỉ các-bon và dịch vụ hấp thụ các-bon của rừng đã trở thành một loại “tài sản môi trường” có giá trị kinh tế rất lớn. Nhiều quốc gia đã thu về hàng trăm triệu USD thông qua việc chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và tín chỉ các-bon rừng.
Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một cơ chế pháp lý rõ ràng để biến giá trị sinh thái của rừng thành giá trị kinh tế hợp pháp, minh bạch và công bằng cho những người trực tiếp bảo vệ rừng.
Chính vì vậy, Nghị định 180/2026/NĐ-CP ra đời được xem là bước ngoặt quan trọng trong chính sách lâm nghiệp của Việt Nam. Lần đầu tiên, Chính phủ quy định đầy đủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; xác định rõ chủ thể cung ứng, chủ thể sử dụng, nguyên tắc giao dịch, cơ chế chi trả, phương thức xây dựng dự án các-bon rừng cũng như việc cấp và chuyển nhượng tín chỉ các-bon rừng trong nước và quốc tế.
Dưới góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long, đây không chỉ là chính sách về môi trường mà còn là một cuộc chuyển đổi tư duy quản trị tài nguyên thiên nhiên. Khi giá trị của rừng được lượng hóa bằng kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon, người dân sẽ có thêm động lực kinh tế để bảo vệ rừng; doanh nghiệp có thêm công cụ thực hiện trách nhiệm môi trường; còn Nhà nước có thêm nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển bền vững và thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.
III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ: “TỪ GIỮ RỪNG BẰNG TRÁCH NHIỆM ĐẾN GIỮ RỪNG BẰNG ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN”
Dưới góc nhìn tích hợp của ThS. Nguyễn Hữu Long, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP không chỉ đơn thuần là văn bản quy định về cơ chế quản lý dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng mà còn phản ánh sự thay đổi tư duy quản trị quốc gia trong phát triển bền vững. Giá trị lớn nhất của Nghị định không nằm ở việc tạo ra một loại hàng hóa mới là tín chỉ các-bon, mà ở việc thay đổi nhận thức của xã hội về giá trị của rừng.
- Góc nhìn tâm lý xã hội: Khi người giữ rừng nhìn thấy tương lai từ chính cánh rừng mình bảo vệ
Trong nhiều năm, không ít người dân sinh sống gần rừng luôn có tâm lý rằng việc bảo vệ rừng là trách nhiệm được giao nhưng lợi ích kinh tế mang lại còn hạn chế. Điều này khiến nhiều nơi vẫn tồn tại mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn và áp lực mưu sinh.
Nghị định 180/2026/NĐ-CP tạo ra một bước chuyển rất quan trọng khi giá trị hấp thụ khí các-bon của rừng được ghi nhận bằng cơ chế pháp lý và có thể chuyển hóa thành nguồn thu hợp pháp. Khi công sức giữ rừng được ghi nhận bằng lợi ích kinh tế cụ thể, người dân sẽ có thêm niềm tin, động lực và trách nhiệm trong việc bảo vệ tài nguyên rừng.
Dưới góc độ tâm lý học, đây chính là sự chuyển đổi từ “động lực mang tính nghĩa vụ” sang “động lực nội tại gắn với lợi ích chính đáng”. Người dân sẽ không còn coi việc giữ rừng chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước mà trở thành lợi ích thiết thực của chính gia đình và cộng đồng.
- Góc nhìn giáo dục: Xây dựng văn hóa phát triển xanh cho thế hệ hôm nay và mai sau
Một giá trị lâu dài của Nghị định là góp phần hình thành nhận thức mới về giáo dục môi trường.
Thông qua việc xác lập giá trị kinh tế của rừng, thế hệ trẻ sẽ hiểu rằng bảo vệ thiên nhiên không chỉ nhằm gìn giữ hệ sinh thái mà còn trực tiếp góp phần giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu và tạo nguồn lực cho phát triển đất nước.
Đây là cơ hội để các nhà trường, cơ sở giáo dục và các tổ chức xã hội tăng cường tuyên truyền, giáo dục về:
- Giá trị của tài nguyên rừng trong nền kinh tế xanh;
- Vai trò của tín chỉ các-bon trong hội nhập quốc tế;
- Trách nhiệm của mỗi công dân trong việc giảm phát thải khí nhà kính;
- Ý thức sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên vì sự phát triển bền vững.
Giáo dục pháp luật trong lĩnh vực này không chỉ giúp người dân hiểu quy định mới mà còn góp phần xây dựng lối sống xanh, tiêu dùng xanh và văn hóa phát triển bền vững.
- Góc nhìn quản trị công: Chuyển từ quản lý tài nguyên sang quản trị tài sản môi trường
Nghị định 180/2026/NĐ-CP thể hiện tư duy quản trị hiện đại khi coi rừng không chỉ là tài nguyên thiên nhiên mà còn là nguồn tài sản môi trường có khả năng tạo ra giá trị kinh tế.
Việc quy định chặt chẽ về xây dựng dự án các-bon, xác nhận kết quả giảm phát thải, cấp tín chỉ, cơ chế chuyển nhượng và quản lý nguồn thu cho thấy Nhà nước đang từng bước xây dựng một thị trường các-bon minh bạch, có kiểm soát và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với các địa phương, chủ rừng và doanh nghiệp phải nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và tăng cường tính minh bạch trong quản lý tài nguyên rừng.
Dưới góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long, quản trị hiện đại không chỉ là quản lý nguồn lực hiện có mà còn phải biết chuyển hóa giá trị sinh thái thành nguồn lực phát triển, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và các thế hệ tương lai.
- LỜI KHUYÊN TỪ CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG
Để Nghị định số 180/2026/NĐ-CP thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn, ThS. Nguyễn Hữu Long đưa ra một số khuyến nghị dành cho người dân, chủ rừng, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý như sau:
- Chủ động tìm hiểu đầy đủ quy định mới về thị trường các-bon rừng
Các chủ rừng, doanh nghiệp lâm nghiệp và chính quyền địa phương cần nghiên cứu kỹ các quy định của Nghị định về quyền, nghĩa vụ, điều kiện xây dựng dự án, cơ chế cấp tín chỉ và chuyển nhượng kết quả giảm phát thải để chủ động tham gia thị trường ngay từ giai đoạn đầu.
Hiểu đúng quy định sẽ giúp hạn chế rủi ro pháp lý và tận dụng hiệu quả các cơ hội từ nền kinh tế xanh.
- Không chạy theo lợi ích trước mắt mà bỏ quên mục tiêu phát triển bền vững
Tín chỉ các-bon chỉ thực sự có giá trị khi được hình thành từ những cánh rừng được quản lý bền vững.
Vì vậy, các chủ rừng cần tuyệt đối tránh tư duy khai thác tài nguyên ngắn hạn, đồng thời tiếp tục đầu tư cho công tác bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng nhằm duy trì lâu dài khả năng hấp thụ các-bon.
- Doanh nghiệp cần xem tín chỉ các-bon là một phần của chiến lược phát triển
Các doanh nghiệp nên chủ động xây dựng chiến lược giảm phát thải, thực hiện kiểm kê khí nhà kính và nghiên cứu cơ chế sử dụng tín chỉ các-bon như một giải pháp thực hiện trách nhiệm môi trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
Đây không chỉ là yêu cầu tuân thủ pháp luật mà còn là lợi thế trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu.
- Chính quyền địa phương cần tăng cường tuyên truyền và hỗ trợ cộng đồng
Các địa phương có diện tích rừng lớn cần đẩy mạnh phổ biến pháp luật, hướng dẫn người dân và cộng đồng dân cư tiếp cận các chính sách mới; đồng thời nâng cao năng lực cán bộ trong việc xây dựng, quản lý và triển khai các dự án các-bon rừng.
Việc người dân được tiếp cận đầy đủ thông tin sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách và hạn chế các tranh chấp, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
THÔNG ĐIỆP NHÂN VĂN
“Giá trị lớn nhất của một cánh rừng không chỉ nằm ở gỗ, lâm sản hay cảnh quan thiên nhiên mà còn ở khả năng nuôi dưỡng sự sống, điều hòa khí hậu và bảo đảm tương lai cho các thế hệ mai sau. Nghị định 180/2026/NĐ-CP đã mở ra một tư duy phát triển mới: bảo vệ rừng không còn chỉ là trách nhiệm pháp lý mà trở thành cơ hội phát triển kinh tế xanh, nâng cao thu nhập cho người dân và thực hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế về ứng phó biến đổi khí hậu. Khi mỗi người dân, mỗi chủ rừng và mỗi doanh nghiệp cùng chung tay gìn giữ màu xanh của rừng, chúng ta không chỉ tạo ra những tín chỉ các-bon có giá trị mà còn tạo dựng một nền kinh tế phát triển bền vững, một môi trường sống an toàn và một tương lai tốt đẹp hơn cho đất nước.”
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

