LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG SỐ 48/2024/QH15 ĐƯỢC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG BỞI LUẬT SỐ 149/2025/QH15: NHỮNG ĐIỂM NGƯỜI DÂN, HỘ KINH DOANH VÀ DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT

12 / 100 Điểm SEO

LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG SỐ 48/2024/QH15 ĐƯỢC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG BỞI LUẬT SỐ 149/2025/QH15: NHỮNG ĐIỂM NGƯỜI DÂN, HỘ KINH DOANH VÀ DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT

I. BỐI CẢNH THỰC TẾ – VÌ SAO LUẬT THUẾ GTGT 2024 ĐÁNG ĐƯỢC QUAN TÂM?

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) không phải là vấn đề chỉ dành cho kế toán, doanh nghiệp hay cơ quan thuế. Đây là một sắc thuế gắn trực tiếp với quá trình sản xuất – kinh doanh – lưu thông – tiêu dùng, vì vậy những thay đổi của pháp luật về thuế GTGT có thể tác động đến giá cả, chi phí kinh doanh, dòng tiền, quyền lợi của người tiêu dùng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 xác định phạm vi điều chỉnh gồm đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ và phương pháp tính thuế, khấu trừ và hoàn thuế GTGT. Luật đồng thời xác định bản chất của thuế GTGT là khoản thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

Đáng chú ý, Luật số 149/2025/QH15 tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật 48/2024/QH15, trong đó tập trung vào một số vấn đề quan trọng liên quan đến sản phẩm nông, lâm, thủy sản; ngưỡng doanh thu của hộ, cá nhân kinh doanh; phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu; phương pháp tính thuế và hoàn thuế. Luật 149/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.

II. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – NHỮNG ĐIỂM MỚI, NỔI BẬT CỦA LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 2024

Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế GTGT, theo hướng mở rộng phạm vi quản lý đối với nền kinh tế số, làm rõ đối tượng không chịu thuế, thay đổi cách tiếp cận về khấu trừ – hoàn thuế và tăng yêu cầu về hóa đơn, chứng từ, thanh toán. Luật số 149/2025/QH15 tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Mười hai (12)  nội dung dưới đây là những vấn đề cộng đồng cần đặc biệt quan tâm.

1. Mở rộng quản lý thuế đối với thương mại điện tử và nền tảng số 

Khoản 4 và khoản 5 Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định cụ thể trách nhiệm thuế đối với:

  • nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số;
  • tổ chức quản lý nền tảng số nước ngoài thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế;
  • tổ chức quản lý sàn thương mại điện tử, nền tảng số có chức năng thanh toán thực hiện khấu trừ, nộp thuế thay cho hộ, cá nhân kinh doanh trên sàn.

Đây là bước chuyển quan trọng từ mô hình quản lý thuế chủ yếu dựa vào hoạt động kinh doanh truyền thống sang quản lý cả dòng tiền và doanh thu trên môi trường số. Người bán hàng online, hộ kinh doanh trên sàn và doanh nghiệp kinh doanh nền tảng số cần hiểu rằng kinh doanh trên môi trường mạng không đồng nghĩa với nằm ngoài phạm vi quản lý thuế.

Dưới góc nhìn quản trị, đây là yêu cầu chuyển từ “quản lý doanh thu bằng sổ sách” sang “quản trị doanh thu bằng dữ liệu”.

2. Bổ sung cơ chế đặc thù đối với sản phẩm nông, lâm, thủy sản 

Điểm a khoản 1 Điều 1 Luật 149/2025/QH15 giữ quy định tại Khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 về sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến hoặc chỉ sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.

Đồng thời, Luật bổ sung một trường hợp rất đáng chú ý:

Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua các sản phẩm này để bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nhưng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Quy định này có ý nghĩa đặc biệt đối với chuỗi sản xuất – thu mua – chế biến – tiêu thụ nông, lâm, thủy sản.

Nó góp phần giảm sự chồng chéo trong việc kê khai thuế ở một số khâu trung gian nhưng vẫn bảo đảm cơ chế khấu trừ thuế đầu vào.

Doanh nghiệp cần kiểm tra đồng thời: Nguồn gốc sản phẩm → mức độ chế biến → chủ thể mua bán → mục đích giao dịch → hóa đơn, chứng từ. Không nên chỉ căn cứ vào tên gọi “nông sản” để tự động xác định cách tính thuế.

3. Nâng ngưỡng doanh thu của hộ, cá nhân kinh doanh từ 200 triệu lên 1 tỷ đồng/năm 

Khoản 25 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 trước đây quy định hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có doanh thu hằng năm từ 200 triệu đồng trở xuống thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

Điểm b khoản 1 Điều 1 Luật 149/2025/QH15 nâng ngưỡng này lên 500 triệu đồng/năm. Sau đó từ 01/01/2026, mức doanh thu này nâng lên thành 1 tỷ đồng/năm theo quy định tại Điều 1 Nghị định 141/2026/NĐ-CP.

Đây là thay đổi có tác động xã hội rất lớn. Đối với nhiều hộ kinh doanh nhỏ, quy định mới góp phần giảm áp lực tuân thủ thuế GTGT.

Tuy nhiên, cần đặc biệt nhấn mạnh: Doanh thu từ 1 tỷ đồng trở xuống thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT không có nghĩa là đương nhiên được miễn mọi nghĩa vụ thuế khác.

Đây là điểm cần tuyên truyền mạnh để tránh tâm lý: “Dưới 1 tỷ  đồng thì không phải quan tâm đến thuế.”. Cách hiểu đúng phải là: “Dưới 1 tỷ đồng  thuộc trường hợp không chịu thuế GTGT, nhưng vẫn phải xem xét các nghĩa vụ pháp lý khác có liên quan.”

4. Duy trì hệ thống thuế suất 0% – 5% – 10%, nhưng phân loại đúng

Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định:

  • Khoản 1 Điều 9: thuế suất 0%;
  • Khoản 2 Điều 9: thuế suất 5%;
  • Khoản 3 Điều 9: thuế suất 10%.

Đáng chú ý, khoản 3 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định mức 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không thuộc khoản 1 và khoản 2 Điều 9, bao gồm cả dịch vụ do nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp qua thương mại điện tử và nền tảng số.

Theo khoản 4 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024, cơ sở kinh doanh có nhiều loại hàng hóa, dịch vụ với các mức thuế suất khác nhau phải khai thuế theo từng mức thuế suất.

Nếu không xác định được theo từng mức thì phải tính và nộp theo mức thuế suất cao nhất của hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh thực hiện.

5. Quy định cụ thể hơn về phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu

Khoản 5 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định, phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu được thu hồi để tái chế, sử dụng lại khi bán ra áp dụng mức thuế suất theo thuế suất của mặt hàng phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu bán ra.

Khoản 2 Điều 1 Luật 149/2025/QH15 sửa đổi quy định này theo hướng xác định: Phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu được thu hồi trong quá trình sản xuất thì áp dụng mức thuế suất của mặt hàng phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu đó.

Đây là vấn đề rất đáng chú ý đối với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, chế biến nông sản, thực phẩm, cơ khí, xây dựng và các ngành phát sinh lượng lớn phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu.

Doanh nghiệp cần: Phân loại đúng → xác định đúng bản chất hàng hóa → áp dụng đúng thuế suất → lập hóa đơn đúng.

6. Xác định rõ đối tượng áp dụng phương pháp khấu trừ

Khoản 2 Điều 11 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định phương pháp khấu trừ áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, trong đó:

Tại điểm a khoản 2 Điều 11: cơ sở kinh doanh có doanh thu hằng năm từ bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ từ 01 tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh;

Tại điểm b khoản 2 Điều 11: cơ sở kinh doanh tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ, trừ hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh;

Tại điểm c khoản 2 Điều 11: một số tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho hoạt động dầu khí thuộc trường hợp luật định.

Phương pháp khấu trừ không chỉ liên quan đến cách tính số thuế phải nộp mà còn gắn chặt với: hệ thống kế toán; hóa đơn; chứng từ; quản trị dòng tiền; quản trị đầu vào, đầu ra. Vì vậy, lựa chọn phương pháp tính thuế cũng chính là một quyết định quản trị doanh nghiệp.

7. Phương pháp tính trực tiếp : Đặc biệt lưu ý hoạt động vàng, bạc, đá quý

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 12 Luật giá trị gia tăng 2024, đối với hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý, số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp được xác định bằng: Giá trị gia tăng × thuế suất GTGT.

Trong đó, giá trị gia tăng được xác định bằng: Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra – giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào tương ứng.

Cơ sở kinh doanh có hoạt động này phải hạch toán riêng để áp dụng phương pháp tính trực tiếp.

Ngoài ra, khoản 2 Điều 12 Luật giá trị gia tăng 2024  quy định phương pháp trực tiếp theo doanh thu đối với một số nhóm chủ thể, trong đó có doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có doanh thu dưới ngưỡng 01 tỷ đồng và hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh, trừ trường hợp luật định.

Các cơ sở kinh doanh cần xác định đúng mình thuộc phương pháp khấu trừ hay phương pháp trực tiếp, bởi sai phương pháp có thể kéo theo sai toàn bộ cách tính và kê khai thuế.

8. Điều kiện khấu trừ thuế đầu vào được quy định chặt chẽ hơn về chứng từ

Theo điểm a khoản 2 Điều 14 Luật giá trị gia tăng 2024, phải có hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu hoặc chứng từ theo quy định.

Theo điểm b khoản 2 Điều 14 Luật giá trị gia tăng 2024, phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ.

Đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, điểm c khoản 2 Điều 14 Luật giá trị gia tăng 2024 còn yêu cầu các hồ sơ, chứng từ bổ sung như hợp đồng với bên nước ngoài, hóa đơn, chứng từ thanh toán, tờ khai hải quan và các chứng từ liên quan.

Có hóa đơn chưa đủ; phải có một bộ chứng từ chứng minh giao dịch hợp pháp. Đây là nguyên tắc mà doanh nghiệp cần đưa vào quy trình kiểm soát nội bộ.

9. Tăng cường cơ chế xử lý sai sót trong khấu trừ thuế

Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 Luật giá trị gia tăng 2024, cho phép người nộp thuế khai bổ sung khi phát hiện số thuế GTGT đầu vào kê khai, khấu trừ bị sai, sót trước khi cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra, thanh tra thuế.

Nếu sai sót làm:

  • Tăng số thuế phải nộp;
  • Giảm số thuế được hoàn;

thì phải khai bổ sung và thực hiện nghĩa vụ tài chính tương ứng.

Nếu sai sót làm giảm số thuế phải nộp hoặc chỉ làm thay đổi số thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển kỳ sau thì thực hiện khai theo kỳ phát hiện sai sót theo quy định.

Quy định này gửi đi một thông điệp rất quan trọng: Phát hiện sai và chủ động sửa sai vẫn tốt hơn che giấu sai sót để rồi biến một lỗi kế toán thành rủi ro pháp lý lớn hơn.

Doanh nghiệp cần xây dựng văn hóa phát hiện – kiểm tra – sửa chữa – lưu hồ sơ, thay vì tâm lý “sợ phát hiện sai nên không dám rà soát”.

10. Ngưỡng 300 triệu đồng được đặt ra trong nhiều trường hợp hoàn thuế

Tại điểm a khoản 1 Điều 15 Luật giá trị gia tăng 2024, đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế theo tháng, quý, trừ trường hợp luật định.

Lưu ý, đối với doanh nghiệp vừa xuất khẩu vừa tiêu thụ nội địa, điểm b khoản 1 Điều 15 Luật giá trị gia tăng 2024 yêu cầu hạch toán riêng số thuế GTGT đầu vào sử dụng cho hoạt động xuất khẩu; nếu không hạch toán riêng được thì phải xác định theo tỷ lệ luật định.

Muốn bảo vệ quyền hoàn thuế, doanh nghiệp phải quản trị tốt ngay từ khâu hạch toán đầu vào. Không nên đến khi lập hồ sơ hoàn thuế mới bắt đầu “gom” chứng từ.

11. Dự án đầu tư có thể được hoàn thuế khi đáp ứng ngưỡng và điều kiện luật định

Theo Điểm a khoản 2 Điều 15 Luật 48/2024/QH15, đối với cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, dự án đầu tư mở rộng theo quy định, số thuế GTGT đầu vào phát sinh trong giai đoạn đầu tư sau khi thực hiện bù trừ theo quy định, nếu còn từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.

Luật đồng thời đặt ra những giới hạn đối với một số dự án đầu tư, trong đó có các trường hợp thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng chưa đáp ứng điều kiện hoặc một số dự án khai thác tài nguyên, khoáng sản theo quy định.

Quy định này vừa bảo đảm quyền lợi về thuế cho doanh nghiệp đầu tư, vừa tạo cơ chế kiểm soát để tránh việc lợi dụng hoàn thuế.

12. Siết chặt hóa đơn, giao dịch giả tạo và đông thời bỏ một số quy định không còn phù hợp

Điều 13 Luật giá trị gia tăng 2024 nghiêm cấm các hành vi như:

  • Mua, cho, bán, quảng cáo, môi giới mua bán hóa đơn;
  • Tạo lập giao dịch mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ không có thật;
  • Lập hóa đơn trái quy định trong thời gian tạm ngừng hoạt động, trừ trường hợp luật định;
  • Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp;
  • Không chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử về cơ quan thuế theo quy định.

Đồng thời, Điều 16 Luật giá trị gia tăng 2024 quy định việc mua bán hàng hóa, dịch vụ phải có hóa đơn, chứng từ theo quy định pháp luật; cơ sở áp dụng phương pháp khấu trừ sử dụng hóa đơn GTGT, còn cơ sở áp dụng phương pháp trực tiếp sử dụng hóa đơn bán hàng.

Đặc biệt, khoản 3 Điều 1 Luật 149/2025/QH15 đã bãi bỏ khoản 3 Điều 12 và điểm c khoản 9 Điều 15 của Luật Thuế GTGT.

Hệ thống thuế mới không chỉ kiểm tra “doanh nghiệp nộp bao nhiêu thuế”, mà ngày càng kiểm tra “giao dịch tạo ra số thuế đó có thật hay không”. Doanh nghiệp vì vậy cần chuyển từ tư duy “Làm hồ sơ để được khấu trừ, hoàn thuế” sang “Xây dựng một giao dịch có thật, chứng từ thật và dữ liệu có thể kiểm chứng.”

III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ: THAY ĐỔI “VĂN HÓA TUÂN THỦ THUẾ”

1. Từ tâm lý “sợ thuế” sang tâm lý “hiểu thuế”

Một hệ thống pháp luật tốt không chỉ làm cho người dân sợ vi phạm, mà phải giúp họ hiểu để tự giác tuân thủ.

Người kinh doanh cần hiểu, thuế không chỉ là nghĩa vụ với Nhà nước mà còn là một phần của quản trị doanh nghiệp chuyên nghiệp.

Doanh nghiệp càng minh bạch về doanh thu, hóa đơn, chứng từ và thanh toán thì càng giảm được rủi ro tranh chấp và xử lý thuế về sau.

2. Giáo dục pháp luật phải bắt đầu từ những việc rất nhỏ

Một nhân viên bán hàng cần biết: Bán hàng có phải lập hóa đơn không?

Một kế toán cần biết: Hóa đơn này có đủ điều kiện khấu trừ không?

Một giám đốc cần biết: Khoản chi này có hồ sơ chứng minh giao dịch thực tế không?

Một hộ kinh doanh online cần biết: Doanh thu của mình đang được ghi nhận và quản lý như thế nào?

Đó chính là giáo dục pháp luật bằng hành vi thực tế.

3. Quản trị thuế phải chuyển từ “chữa cháy” sang “phòng ngừa”

Một doanh nghiệp chuyên nghiệp không chờ đến khi cơ quan thuế kiểm tra mới rà soát hồ sơ.

Nên xây dựng quy trình: Phát sinh giao dịch → hợp đồng → hóa đơn → thanh toán → giao nhận → hạch toán → lưu trữ → kiểm tra nội bộ.

Mỗi khâu đều có thể trở thành điểm phát sinh rủi ro.

IV. LỜI KHUYÊN VÀ GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN TỪ CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG

1. Hộ kinh doanh: quản lý doanh thu ngay từ hôm nay

Không chờ đến cuối năm mới tổng hợp doanh thu.

Hãy ghi nhận doanh thu theo ngày, tháng và quý; lưu giữ chứng từ và dữ liệu bán hàng.

2.Doanh nghiệp: xây dựng “hồ sơ giao dịch hoàn chỉnh”

Mỗi giao dịch nên được kiểm tra tối thiểu: Hợp đồng – hóa đơn – thanh toán – giao nhận – hạch toán.

Thiếu một mắt xích có thể làm phát sinh rủi ro về thuế.

3. Không sử dụng hóa đơn “mua ngoài” để hợp thức hóa

Một hóa đơn có hình thức hợp lệ nhưng phản ánh giao dịch không có thật có thể trở thành rủi ro rất lớn.

Luật đã nghiêm cấm việc tạo lập giao dịch không có thật và mua bán hóa đơn.

4. Ưu tiên thanh toán không dùng tiền mặt

Đặc biệt với các giao dịch mà doanh nghiệp dự kiến sử dụng thuế GTGT đầu vào để khấu trừ.

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những điều kiện được Luật đặt ra cho việc khấu trừ đầu vào, trừ trường hợp đặc thù.

5. Kinh doanh online không có nghĩa là “đứng ngoài hệ thống thuế”

Hộ, cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử và nền tảng số cần chủ động tìm hiểu nghĩa vụ của mình.

Các nền tảng có chức năng thanh toán cũng được Luật đặt vào cơ chế khấu trừ, nộp thuế thay theo quy định.

6. Khi phát hiện sai, hãy chủ động khắc phục

Sai sót về thuế không nên được che giấu.

Nguyên tắc quản trị rủi ro tốt nhất là: Phát hiện sớm – đánh giá đúng – khai bổ sung kịp thời – lưu hồ sơ chứng minh việc khắc phục.

Thông điệp nhân văn: “Thuế không chỉ là nghĩa vụ với Nhà nước, mà còn là thước đo của văn hóa kinh doanh và trách nhiệm cộng đồng. Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 149/2025/QH15, hướng tới một môi trường thuế minh bạch, công bằng và phù hợp hơn với thực tiễn sản xuất, kinh doanh. Hiểu đúng pháp luật để không sợ thuế; tuân thủ đúng pháp luật để bảo vệ chính mình; và cùng nhau xây dựng văn hóa kinh doanh trung thực, trách nhiệm, minh bạch – đó chính là cách để pháp luật trở thành nền tảng của niềm tin và phát triển bền vững.”.

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Để lại một bình luận