KHƠI DẬY SỨC SỐNG VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ THEO NGHỊ ĐỊNH 269/2026/NĐ-CP: CỘNG ĐỒNG ĐƯỢC THỤ HƯỞNG NHỮNG GÌ?
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong đó văn hóa truyền thống của 53 dân tộc thiểu số là kho tàng di sản vô giá, làm nên bản sắc và sự đa dạng của nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình đô thị hóa, di cư lao động và giao thoa văn hóa, không ít giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một: nghề thủ công dần thất truyền, lễ hội thưa vắng người tham gia, không gian văn hóa làng bản bị thu hẹp, biến dạng.
Ngày 01/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ-CP quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, cụ thể hóa Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây được xem là hành lang pháp lý quan trọng, lần đầu tiên quy định cụ thể, định lượng rõ ràng các tiêu chí, cơ chế hỗ trợ để cộng đồng dân tộc thiểu số tự mình gìn giữ, trao truyền văn hóa của dân tộc mình.
Dưới góc nhìn tích hợp Pháp luật – Tâm lý – Quản trị của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị, bài viết phổ biến pháp luật này sẽ giải mã những nội dung quan trọng nhất của Nghị định 269/2026/NĐ-CP và mang đến những lời khuyên thiết thực cho cộng đồng.
- BỐI CẢNH THỰC TẾ – NHỮNG “KHOẢNG TRỐNG” TRONG BẢO TỒN VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
Thực tế tại nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cho thấy một nghịch lý đáng buồn: di sản văn hóa vẫn còn đó nhưng người nắm giữ, thực hành lại ngày một ít đi.
- Câu chuyện nghề dệt thổ cẩm: Tại một bản người Thái ở vùng cao Tây Bắc, cả bản chỉ còn vài cụ bà ngoài 70 tuổi còn thuộc trọn vẹn hoa văn dệt thổ cẩm cổ truyền. Lớp trẻ đi làm ăn xa, không mấy ai còn mặn mà học nghề; khung cửi dần bị bỏ xó, nguy cơ thất truyền chỉ còn tính bằng năm.
- Câu chuyện lễ hội truyền thống: Một lễ hội cầu mùa đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc đã nhiều năm liền không thể tổ chức trọn vẹn nghi lễ gốc vì thiếu kinh phí, thiếu người am hiểu quy trình hành lễ và không gian thực hành bị thu hẹp do thay đổi quy hoạch.
Tâm lý chung của cộng đồng trước thực trạng này là lo lắng, tiếc nuối nhưng lúng túng, chưa biết bắt đầu từ đâu để gìn giữ vốn văn hóa của cha ông. Nghị định 269/2026/NĐ-CP ra đời chính là lời giải đáp, chuyển từ những trăn trở tự phát sang một cơ chế bảo tồn bài bản, có nguồn lực và có lộ trình rõ ràng.
- GÓC NHÌN PHÁP LÝ – “LÁ CHẮN VỮNG CHẮC” TỪ NGHỊ ĐỊNH 269/2026/NĐ-CP
Nghị định 269/2026/NĐ-CP đặt ra hành lang pháp lý toàn diện, lấy cộng đồng dân tộc thiểu số làm trung tâm của hoạt động bảo tồn. Dưới đây là các điểm cốt lõi người dân cần nắm vững:
- Thế nào là văn hóa truyền thống “có nguy cơ mai một”?
Theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 269/2026/NĐ-CP, văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một được hiểu là giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số bị suy giảm, thất truyền hoặc biến mất do không còn hoặc còn rất ít người hiểu biết, nắm giữ và người thực hành, trao truyền được đánh giá theo tiêu chí chuyên môn.
Điểm tiến bộ đáng chú ý là Nghị định đã lượng hóa khái niệm này bằng các tiêu chí cụ thể tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 269/2026/NĐ-CP, trong đó văn hóa truyền thống được xác định có nguy cơ mai một khi:
- Có dưới 20 cá nhân trong cộng đồng am hiểu, nắm giữ, thực hành và trao truyền (điểm a);
- Có dưới 05 chủ thể văn hóa kế cận thường xuyên tham gia thực hành, tiếp nhận trao truyền (điểm b);
- Hoạt động thực hành, trao truyền đã bị gián đoạn từ 03 năm đến dưới 05 năm liên tục, hoặc gián đoạn từ 02 năm liên tục đối với dân tộc thiểu số có khó khăn đặc thù (điểm c).
Việc định lượng rõ ràng này giúp chính quyền cơ sở dễ dàng rà soát, tránh tình trạng bảo tồn theo cảm tính.
- Ai là người được công nhận, hỗ trợ – “chủ thể văn hóa” theo Nghị định?
Nghị định 269/2026/NĐ-CP phân định rõ ba nhóm chủ thể tại Điều 7.
- Theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 269/2026/NĐ-CP, chủ thể văn hóa nòng cốt phải có thời gian tham gia thực hành, trao truyền từ 05 năm trở lên (điểm a); trong 03 năm gần nhất đã tham gia tối thiểu 03 hoạt động với tư cách chủ thể trực tiếp thực hành, trao truyền (điểm b); đã trực tiếp trao truyền cho tối thiểu 01 chủ thể văn hóa kế cận (điểm c).
- Theo khoản 3 Điều 7 Nghị định 269/2026/NĐ-CP, chủ thể văn hóa kế cận là người được nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú hoặc chủ thể văn hóa nòng cốt giới thiệu (điểm a) và có khả năng tiếp thu, thực hành độc lập nội dung được trao truyền (điểm b).
- Cơ chế hỗ trợ tài chính cụ thể, minh bạch cho người “giữ lửa”
Đây là điểm được cộng đồng mong đợi nhất. Theo điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định 269/2026/NĐ-CP, chủ thể văn hóa nòng cốt trực tiếp tham gia thực hành, trao truyền trong các chương trình, đề án, dự án do cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập chủ trì tổ chức được hỗ trợ 400.000 đồng/người/buổi; chủ thể văn hóa kế cận được hỗ trợ 300.000 đồng/người/buổi.
Theo điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị định 269/2026/NĐ-CP, số buổi hỗ trợ tối đa không quá 20 buổi/chương trình. Đồng thời, khoản 2 Điều 12 Nghị định 269/2026/NĐ-CP còn cho phép hỗ trợ kinh phí hằng tháng theo chương trình, đề án, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định cụ thể nhưng không thấp hơn mức tối thiểu đã quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành áp dụng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
- Quy trình, thời hạn phê duyệt rõ ràng, đúng hạn
Để tránh tình trạng hồ sơ “treo” kéo dài, điểm c khoản 3 Điều 5 Nghị định 269/2026/NĐ-CP quy định trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh phải rà soát hồ sơ, tham mưu thành lập Hội đồng đánh giá (trường hợp cần khảo sát thực tế được tăng thêm nhưng không quá 15 ngày làm việc); điểm d khoản 3 Điều 5 quy định Hội đồng đánh giá có 10 ngày làm việc để họp xét hồ sơ; và theo điểm đ khoản 3 Điều 5 Nghị định 269/2026/NĐ-CP, trong thời hạn 07 ngày làm việc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải quyết định phê duyệt danh mục văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một.
- Gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch, tạo sinh kế bền vững
Theo Điều 9 Nghị định 269/2026/NĐ-CP, việc phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số phải gắn với phát triển du lịch cộng đồng và tạo sinh kế bền vững; Nhà nước hỗ trợ xây dựng, phát triển các mô hình bảo tồn gắn với câu lạc bộ văn hóa, nghệ thuật dân gian, đồng thời khuyến khích tổ, nhóm, tổ hợp tác, hợp tác xã và cộng đồng dân cư tham gia quản lý hoạt động du lịch cộng đồng, bảo đảm cộng đồng được thụ hưởng từ chính giá trị văn hóa mà mình gìn giữ.
III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ: “CHÌA KHÓA NHÂN VĂN”
Dưới góc độ tích hợp của ThS. Nguyễn Hữu Long, Nghị định 269/2026/NĐ-CP không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy mà còn mang hàm lượng tri thức tâm lý xã hội và quản trị công sâu sắc:
- Phân tích góc nhìn tâm lý xã hội: Khôi phục niềm tự hào và sự tự tin văn hóa
Nguy cơ mai một văn hóa thường kéo theo một trạng thái tâm lý tiêu cực trong cộng đồng: mặc cảm, e ngại thể hiện bản sắc riêng trước xu thế hòa nhập. Khi Nhà nước chính thức ghi nhận, hỗ trợ kinh phí và tôn vinh vai trò của chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận, điều đó không chỉ là hỗ trợ vật chất mà còn là sự công nhận về mặt tinh thần, giúp đồng bào cảm thấy văn hóa của dân tộc mình được trân trọng, từ đó chủ động, tự hào gìn giữ.
- Phân tích góc nhìn quản trị công: Từ hô hào chung chung sang cơ chế định lượng
Điểm khác biệt lớn nhất của Nghị định 269 so với nhiều chính sách văn hóa trước đây là tính định lượng, đo lường được. Khoản 2 Điều 4 Nghị định 269/2026/NĐ-CP xác định nguyên tắc “lấy cộng đồng các dân tộc thiểu số là chủ thể, trung tâm của hoạt động bảo tồn và phát triển”, đồng thời phát huy vai trò của chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận và khuyến khích sự tham gia của chủ thể văn hóa tiềm năng. Cách tiếp cận này buộc chính quyền cấp xã, cấp tỉnh phải hành động cụ thể, có hồ sơ, có thời hạn, có trách nhiệm giải trình, thay vì chỉ dừng ở khẩu hiệu.
- Giáo dục thế hệ trẻ – nuôi dưỡng “chủ thể văn hóa tiềm năng”
Theo Điều 8 Nghị định 269/2026/NĐ-CP, Nhà nước khuyến khích xây dựng không gian trải nghiệm văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong cơ sở giáo dục và khu dân cư, ưu tiên triển khai tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, nhằm tạo điều kiện để học sinh, sinh viên, thanh niên người dân tộc thiểu số – những “chủ thể văn hóa tiềm năng” – được tìm hiểu, thực hành và tiếp cận giá trị văn hóa truyền thống ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Đây chính là nền tảng giáo dục ý thức trao truyền văn hóa một cách bền vững, tránh đứt gãy thế hệ.
- LỜI KHUYÊN VÀ GIẢI PHÁP TỪ CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG
Để cộng đồng dân tộc thiểu số thụ hưởng tối đa lợi ích từ Nghị định 269/2026/NĐ-CP (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 theo Điều 15 Nghị định 269/2026/NĐ-CP), ThS. Nguyễn Hữu Long đưa ra 4 lời khuyên hành động thiết thực:
- Chủ động đề nghị công nhận chủ thể văn hóa nòng cốt, kế cận: Cá nhân đáp ứng tiêu chí tại khoản 2, khoản 3 Điều 7 Nghị định 269/2026/NĐ-CP nên liên hệ Ủy ban nhân dân cấp xã để được rà soát, lập danh sách trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo trình tự tại khoản 4 Điều 7 Nghị định 269/2026/NĐ-CP, làm căn cứ hưởng các mức hỗ trợ kinh phí.
- Tổ, nhóm cộng đồng chủ động lập hồ sơ đề xuất dự án: Theo Điều 11 Nghị định 269/2026/NĐ-CP, nhóm hộ gia đình, tổ hợp tác có từ 50% số người tham gia là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có thể được xem xét hỗ trợ kinh phí thực hiện dự án phục hồi, bảo tồn văn hóa truyền thống; nên chủ động xây dựng hồ sơ đề nghị gửi Ủy ban nhân dân cấp xã.
- Liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã để phát triển sản phẩm văn hóa – du lịch: Theo điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định 269/2026/NĐ-CP, cộng đồng nên chủ động tham gia các mô hình câu lạc bộ văn hóa, nghệ thuật dân gian gắn với du lịch cộng đồng để vừa bảo tồn giá trị truyền thống, vừa tạo sinh kế bền vững.
- Theo dõi thông tin công khai để nắm bắt quyền lợi kịp thời: Theo điểm đ khoản 3 Điều 5 Nghị định 269/2026/NĐ-CP, danh mục văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một được đăng tải công khai trên Trang thông tin điện tử của cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh; người dân nên thường xuyên theo dõi để chủ động nắm bắt tiến độ và quyền lợi của cộng đồng mình.
Thông điệp nhân văn: “Văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc thiểu số không chỉ là di sản của riêng cộng đồng đó, mà là một mảnh ghép làm nên bản sắc chung của dân tộc Việt Nam. Nghị định 269/2026/NĐ-CP không chỉ trao cho đồng bào công cụ pháp lý và nguồn lực để tự bảo vệ vốn quý của mình, mà còn khơi dậy niềm tự hào, ý thức chủ động gìn giữ văn hóa trong chính cộng đồng – đó mới là gốc rễ bền vững nhất của công cuộc bảo tồn.”
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

