TÌNH HUỐNG SỐ 483: DI CHÚC PHỨC HỢP: NGƯỜI CHA LẬP DI CHÚC ĐỂ LẠI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VÀ NGÔI NHÀ CỔ CHO CON TRAI TRƯỞNG THỜ CÚNG, KÈM ĐIỀU KIỆN “KHÔNG ĐƯỢC TỰ Ý THAY ĐỔI KIẾN TRÚC, NẾU VI PHẠM SẼ CHUYỂN GIAO CHO QUỸ BẢO TỒN HỌ TỘC”?
Di chúc không chỉ là văn bản thể hiện ý chí của một người về việc phân chia tài sản sau khi qua đời, mà trong nhiều gia đình còn là nơi gửi gắm tâm nguyện, gia phong và mong muốn gìn giữ những giá trị truyền thống cho các thế hệ sau.
Tuy nhiên, khi người lập di chúc vừa để lại tài sản cho một người thừa kế, vừa đặt ra nghĩa vụ bảo tồn ngôi nhà cổ, lại đồng thời quy định hậu quả là tài sản sẽ được chuyển giao cho một “Quỹ bảo tồn họ tộc” nếu người thừa kế vi phạm, vấn đề pháp lý trở nên phức tạp.
Trong trường hợp này, cần giải quyết đồng thời bốn vấn đề: hiệu lực của điều kiện trong di chúc; bản chất của tài sản dùng vào việc thờ cúng; giá trị pháp lý của điều khoản chuyển giao tài sản cho một quỹ chưa được thành lập; và giới hạn của quyền sửa chữa ngôi nhà khi công trình có giá trị lịch sử, văn hóa.
Hãy cùng chuyên gia ThS. Nguyễn Hữu Long phân tích tình huống dưới đây để tìm ra lời giải vẹn toàn cả về lý và tình.
- TÓM TẮT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ
Ông T, 75 tuổi, ngụ tại xã X, tỉnh Y, là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với một thửa đất ở diện tích khoảng 300 m². Trên đất có một căn nhà rường cổ hơn 100 năm tuổi, được gia đình sử dụng làm nơi thờ tự tổ tiên và là không gian sinh hoạt truyền thống của dòng họ.
Trước khi qua đời, ông T lập di chúc bằng văn bản có công chứng, để lại quyền sử dụng đất và ngôi nhà cho anh H – con trai trưởng – với mục đích duy trì việc thờ cúng tổ tiên.
Trong di chúc, ông T ghi rõ:
“Anh H không được tự ý sửa chữa, cải tạo làm thay đổi kết cấu, kiến trúc nguyên bản của ngôi nhà cổ. Nếu vi phạm, phần đất và nhà nêu trên sẽ được chuyển giao cho Quỹ bảo tồn họ tộc quản lý.”
Ba năm sau khi ông T qua đời, ngôi nhà xuống cấp nghiêm trọng. Mái bị dột, một số cột, kèo và cấu kiện gỗ bị mục, có nguy cơ mất an toàn trong mùa mưa bão.
Anh H muốn sửa lại một phần mái, gia cố hệ thống cột và thay thế những cấu kiện đã hư hỏng nhằm bảo đảm an toàn và duy trì việc thờ cúng.
Tuy nhiên, một số người em và các bậc cao niên trong họ phản đối, cho rằng bất cứ việc sửa chữa nào cũng là “vi phạm di chúc”, đồng thời yêu cầu chuyển toàn bộ đất và nhà cho “Quỹ bảo tồn họ tộc”.
Vấn đề là “Quỹ bảo tồn họ tộc” trên thực tế chưa được thành lập, chưa có tư cách pháp nhân và chưa có cơ chế pháp lý để tiếp nhận, quản lý tài sản.
Anh H vì vậy rơi vào tình thế khó xử: sửa nhà thì lo bị cho là vi phạm di chúc; không sửa thì công trình tiếp tục xuống cấp và có nguy cơ gây mất an toàn.
- GÓC NHÌN PHÁP LÝ – “LÁ CHẮN VỮNG CHẮC”
2.1. Người lập di chúc có quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế
Trước hết, cần xác định bản chất pháp lý của di chúc.
Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015:
“Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”
Quy định này cho thấy di chúc là phương tiện pháp lý để người có tài sản thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình sau khi chết.
Đáng chú ý hơn, Điều 626 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người lập di chúc có quyền:
“Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.”
Ngoài quyền giao nghĩa vụ, người lập di chúc còn có quyền chỉ định người thừa kế, phân định phần di sản và chỉ định người quản lý di sản.
Như vậy, ông T về nguyên tắc có quyền để lại tài sản cho anh H đồng thời yêu cầu anh H thực hiện một nghĩa vụ nhất định gắn với tài sản được hưởng.
Trong tình huống này, nghĩa vụ “không tự ý sửa chữa, cải tạo làm thay đổi kết cấu, kiến trúc nguyên bản của ngôi nhà cổ” có thể được hiểu là nghĩa vụ bảo tồn giá trị kiến trúc của tài sản, gắn với mục đích thờ cúng mà ông T mong muốn duy trì.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bất kỳ nội dung nào được ghi trong di chúc cũng đương nhiên có hiệu lực.
2.2. Di chúc phải có nội dung hợp pháp
Khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về điều kiện để di chúc hợp pháp. Nội dung cốt lõi của quy định là di chúc phải được lập trong trạng thái minh mẫn, tự nguyện và nội dung không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Do đó, việc ông T đặt điều kiện bảo tồn ngôi nhà không bị pháp luật phủ nhận chỉ vì đó là “điều kiện”.
Vấn đề cần kiểm tra là:
Điều kiện đó có hợp pháp hay không; có thể thực hiện hay không; và được hiểu như thế nào trong mối quan hệ với toàn bộ nội dung di chúc?
Một điểm đặc biệt quan trọng là câu chữ của ông T không phải “anh H không được sửa chữa ngôi nhà dưới bất kỳ hình thức nào”, mà là “không được tự ý sửa chữa, cải tạo làm thay đổi kết cấu, kiến trúc nguyên bản”.
Hai cách hiểu này hoàn toàn khác nhau.
Nếu anh H tháo dỡ toàn bộ nhà rường, xây nhà hiện đại thay thế hoặc làm mất những đặc điểm kiến trúc cốt lõi của công trình thì rõ ràng có cơ sở để xem xét là vi phạm nghĩa vụ được giao.
Nhưng nếu anh H chỉ thay ngói đã hư hỏng, gia cố cột mục, xử lý mối mọt hoặc thay một cấu kiện không còn khả năng chịu lực mà vẫn giữ nguyên phong cách, hình thức và công năng của căn nhà thì chưa thể chỉ dựa vào việc “có sửa chữa” để kết luận anh H vi phạm di chúc.
Nói cách khác, mục đích của điều kiện là bảo tồn giá trị của ngôi nhà, chứ không hợp lý nếu biến điều kiện đó thành nghĩa vụ để ngôi nhà xuống cấp và mất khả năng tồn tại.
2.3. Phải phân biệt “tài sản để lại cho con trai trưởng” với “di sản dùng vào việc thờ cúng”
Đây là điểm pháp lý rất quan trọng của tình huống.
Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế…”
Đồng thời, phần di sản này được giao cho người được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý.
Vì vậy, cần đọc thật kỹ di chúc của ông T. Đồng thời, cần đối chiếu Khoản 3 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024 về việc thực hiện quyền của người sử dụng đất trong trường hợp quyền sử dụng đất được dùng vào mục đích thờ cúng và việc xác định chủ thể đứng tên, quản lý trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nếu nội dung di chúc thể hiện rằng ông T dành đất và nhà thành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng, còn anh H chỉ là người quản lý, thì quyền của anh H sẽ khác với trường hợp ông T thực sự để lại quyền sử dụng đất và ngôi nhà cho anh H với tư cách người thừa kế, đồng thời giao cho anh nghĩa vụ duy trì việc thờ cúng.
Trong tình huống được nêu, di chúc nói “để lại toàn bộ quyền sử dụng đất và ngôi nhà cho anh H – con trai trưởng – với mục đích thờ cúng”. Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp cần xác định chính xác ý chí của ông T: anh H là chủ thể được hưởng di sản hay chỉ là người được giao quản lý di sản thờ cúng.
Không thể chỉ dựa vào cụm từ “thờ cúng” để mặc nhiên áp dụng Điều 645 cho toàn bộ tài sản. Cần phân biệt: người được hưởng quyền sử dụng đất có nghĩa vụ thờ cúng là người nhận di sản và có quyền sử dụng đất theo di chúc, đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ thờ cúng; còn người đại diện quản lý di sản đất thờ cúng là người được giao quản lý tài sản dùng vào việc thờ cúng, không đương nhiên là người hưởng thừa kế hoặc chủ thể có toàn bộ quyền định đoạt tài sản. Về thủ tục, việc đại diện đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải căn cứ vào bản chất pháp lý của tài sản, nội dung di chúc, văn bản phân chia hoặc thỏa thuận của những người thừa kế và quy định tại Khoản 3 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024; việc đứng tên đại diện để quản lý không làm biến người đại diện thành chủ sở hữu riêng của di sản thờ cúng.
2.4. “Nếu vi phạm sẽ chuyển giao cho Quỹ bảo tồn họ tộc” có tự động có hiệu lực không?
Đây là nút thắt lớn nhất của tình huống.
Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”
Trong tình huống này, “Quỹ bảo tồn họ tộc” chưa được thành lập vào thời điểm ông T qua đời.
Do đó, nếu ông T xác định quỹ này là một tổ chức trực tiếp được hưởng di sản, thì điều kiện về sự tồn tại của chủ thể nhận thừa kế phải được xem xét rất chặt chẽ.
Không thể coi một tổ chức chỉ tồn tại dưới dạng tên gọi trong di chúc là đương nhiên có tư cách pháp lý như một pháp nhân.
Điểm này còn phải đặt trong bối cảnh pháp luật hiện hành về quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Nghị định số 03/2026/NĐ-CP ngày 09/01/2026 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước về quỹ xã hội, quỹ từ thiện có hiệu lực từ ngày 01/03/2026 và hiện còn hiệu lực.
Vì vậy, nếu gia đình thực sự muốn thành lập một quỹ bảo tồn, việc đó phải được thực hiện theo trình tự pháp luật tương ứng. Việc các thành viên trong họ tự gọi một nhóm người là “Quỹ bảo tồn họ tộc” không làm phát sinh ngay tư cách pháp nhân.
2.5. Có được áp dụng Điều 650 để chuyển phần tài sản cho người thừa kế theo pháp luật không?
Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật. Một trong các trường hợp được luật quy định là:
“cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.
Ngoài ra, thừa kế theo pháp luật còn được áp dụng đối với phần di sản có liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực pháp luật. Khi xử lý phần di chúc bị vô hiệu, cần đối chiếu Khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024 để xác định điều kiện thực hiện việc chia thừa kế quyền sử dụng đất, trong đó phải bảo đảm các điều kiện luật định đối với quyền sử dụng đất được đưa ra chia thừa kế.
Tuy nhiên, cần tránh cách hiểu máy móc rằng:
“Quỹ chưa thành lập = toàn bộ đất và nhà lập tức bị chia theo pháp luật.”
Cách kết luận này chưa đủ căn cứ.
Trước tiên phải xác định “Quỹ bảo tồn họ tộc” trong di chúc được ông T xác định với tư cách người thừa kế, người được quản lý thay thế hay chỉ là phương án thể hiện ý chí của ông T khi anh H vi phạm nghĩa vụ.
Nếu phần di chúc liên quan đến quỹ không thể thực hiện, thì cần xác định chính xác phần nào của di chúc mất hiệu lực, hậu quả đối với phần tài sản đó và mối quan hệ với các phần còn lại của di chúc.
Vì vậy, việc tranh chấp không thể được giải quyết chỉ bằng một cuộc họp họ tộc tự “thu hồi” đất và nhà.
2.6. Anh H có được sửa chữa ngôi nhà hay không?
Đây là vấn đề thực tế cần được giải quyết trên cơ sở kỹ thuật kết hợp pháp lý.
Cần chia việc sửa chữa thành hai trường hợp.
Trường hợp thứ nhất: sửa chữa để bảo tồn.
Ví dụ: thay ngói vỡ, chống dột, gia cố cột kèo mục, xử lý mối mọt, thay một số cấu kiện đã mất khả năng chịu lực bằng vật liệu và kiểu dáng phù hợp, nhưng vẫn giữ nguyên hình thức kiến trúc cơ bản.
Những hành động này về bản chất nhằm duy trì và bảo vệ công trình, không nhất thiết đồng nghĩa với việc “thay đổi kiến trúc”. Theo Khoản 1 Điều 26 Luật Đất đai năm 2024, người sử dụng đất có quyền đối với tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật. Vì vậy, hành vi sửa chữa, gia cố để bảo vệ và bảo toàn nhà cổ thuộc phạm vi quyền hợp pháp của người sử dụng đất, miễn là không làm biến đổi bản chất công trình và vẫn tuân thủ các quy định chuyên ngành có liên quan.
Trường hợp thứ hai: cải tạo làm biến đổi bản chất công trình.
Ví dụ: phá bỏ kết cấu nhà rường, xây thêm tầng, thay đổi toàn bộ mặt bằng, thay đổi hình thức kiến trúc hoặc chuyển ngôi nhà thành một công trình hoàn toàn khác.
Trường hợp này mới có cơ sở rõ hơn để xem xét là hành vi đi ngược lại nghĩa vụ mà ông T đặt ra trong di chúc.
Do đó, giải pháp đúng không phải là “không được đụng vào ngôi nhà”, mà là xác định thế nào là bảo tồn và thế nào là làm thay đổi giá trị kiến trúc mà ông T muốn gìn giữ. Việc sửa chữa, gia cố nhằm bảo toàn tài sản không thể bị xem là vi phạm nghĩa vụ trong di chúc chỉ vì có tác động vật chất đến công trình; cần đánh giá mục đích, mức độ và phương pháp sửa chữa.
2.7. Nếu ngôi nhà là di tích thì phải tuân thủ thêm pháp luật về di sản văn hóa
Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/07/2025 và điều chỉnh hoạt động quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa.
Điểm cần nhấn mạnh là “nhà cổ hơn 100 năm” không đồng nghĩa đương nhiên với “di tích”.
Gia đình trước hết cần xác minh tình trạng pháp lý của căn nhà.
Nếu công trình đã được xác định là di tích hoặc thuộc đối tượng được pháp luật về di sản văn hóa bảo vệ thì việc tu bổ, tôn tạo, sửa chữa phải tuân thủ chế độ pháp lý tương ứng; lúc này, ngoài nội dung di chúc còn có yêu cầu của pháp luật công về bảo vệ di sản.
Nếu công trình chỉ là một ngôi nhà cổ của gia đình nhưng chưa được xác lập tình trạng di tích thì cần xem xét chủ yếu theo pháp luật dân sự, pháp luật xây dựng và chính nội dung di chúc. Đồng thời, Khoản 1 Điều 26 Luật Đất đai năm 2024 bảo đảm quyền của người sử dụng đất đối với tài sản gắn liền với đất; do đó, sửa chữa, gia cố để bảo toàn nhà cổ là việc thực hiện quyền hợp pháp của người sử dụng đất, không tự thân vi phạm nghĩa vụ di chúc hay quy định về đất đai, trừ trường hợp việc sửa chữa thực tế làm thay đổi bản chất kiến trúc hoặc vi phạm quy định chuyên ngành về bảo vệ di tích.
Như vậy, di chúc không thể thay thế các quy định bắt buộc của pháp luật về di sản văn hóa nếu công trình thuộc diện được pháp luật bảo vệ, nhưng ngược lại, cũng không nên mặc nhiên áp dụng chế độ di tích chỉ vì công trình có tuổi đời cao.
- GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ – “CHÌA KHÓA NHÂN VĂN”
Về tâm lý
Đằng sau điều kiện mà ông T đặt ra có thể là một nỗi lo rất thật: sợ rằng thế hệ sau vì lợi ích trước mắt sẽ thay đổi hoặc phá bỏ ngôi nhà gắn với ký ức tổ tiên.
Đối với anh H, áp lực cũng không nhỏ. Là con trai trưởng, anh được giao trách nhiệm gìn giữ nơi thờ tự nhưng lại đứng trước nguy cơ bị chính những người thân trong gia đình cho rằng mình vi phạm di chúc.
Nếu không sửa, nhà có thể tiếp tục xuống cấp.
Nếu sửa quá mức, anh có thể bị cho là đã đi ngược ý nguyện của cha.
Vì vậy, tranh chấp này thực chất không chỉ là tranh chấp về tài sản, mà còn là sự xung đột giữa bảo tồn ký ức và nhu cầu thích ứng với thực tế.
Về giáo dục và quản trị gia đình – dòng họ
Điều đáng suy ngẫm nhất là ông T đã đặt ra mục tiêu đúng nhưng chưa xây dựng cơ chế thực hiện đủ rõ.
Một di chúc tốt không chỉ cần nói:
“Không được thay đổi.”
Mà cần dự liệu:
Khi nào được sửa?
Sửa đến mức nào?
Ai được đánh giá phương án sửa chữa?
Thế nào là bảo tồn, thế nào là cải tạo?
Nếu người quản lý không thực hiện đúng thì ai thay thế?
Chủ thể nhận tài sản thay thế phải được xác định thế nào?
Nếu những câu hỏi đó không được giải quyết từ đầu, một điều kiện nhằm giữ gìn gia phong lại có thể trở thành nguyên nhân làm các thành viên trong gia đình mâu thuẫn.
- GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CỦA CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG
Bước 1 – Kiểm tra đầy đủ tình trạng pháp lý của đất, nhà và di chúc
Gia đình cần kiểm tra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, bản di chúc gốc và các tài liệu có liên quan.
Đồng thời, cần xác minh căn nhà có thuộc diện di tích hoặc đối tượng được bảo vệ theo pháp luật về di sản văn hóa hay không.
Đây là bước bắt buộc trước khi đưa ra kết luận rằng anh H được hay không được sửa chữa.
Bước 2 – Lập hồ sơ hiện trạng và phương án sửa chữa bảo tồn
Nên mời người có chuyên môn về nhà rường, kiến trúc truyền thống hoặc bảo tồn công trình cổ khảo sát.
Phải chụp ảnh, đo đạc và lập biên bản hiện trạng, xác định bộ phận nào còn nguyên bản, bộ phận nào hư hỏng và bộ phận nào bắt buộc phải gia cố.
Sau đó lập phương án với nguyên tắc:
“Gia cố để công trình tồn tại, không cải tạo để biến đổi công trình.”
Hồ sơ kỹ thuật này sẽ có ý nghĩa rất lớn nếu sau này phát sinh tranh chấp về việc anh H có vi phạm điều kiện trong di chúc hay không.
Bước 3 – Xác định bản chất pháp lý của tài sản thờ cúng và điều khoản về Quỹ bảo tồn
Gia đình cần đọc toàn bộ di chúc để xác định ông T thực sự muốn:
để lại tài sản cho anh H, hay dành tài sản làm di sản thờ cúng và giao anh H quản lý.
Đồng thời phải xác định điều khoản “chuyển giao cho Quỹ bảo tồn họ tộc” là một nội dung thừa kế, một cơ chế thay thế người quản lý hay chỉ là cách thể hiện ý chí của người lập di chúc.
Nếu xem quỹ là một tổ chức nhận tài sản thì phải xem xét điều kiện tồn tại của tổ chức tại thời điểm mở thừa kế theo Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bước 4 – Không tự ý “thu hồi” tài sản trong nội bộ gia đình
Nếu cho rằng anh H vi phạm di chúc, những người trong dòng họ không thể tự mình tuyên bố thu hồi đất và nhà.
Cần căn cứ vào toàn bộ nội dung di chúc và quy định pháp luật về thừa kế để xác định:
- có thực sự xảy ra vi phạm nghĩa vụ hay không;
- vi phạm ở mức độ nào;
- phần nào của di chúc còn hiệu lực;
- người nào có quyền quản lý hoặc hưởng tài sản;
- và hậu quả pháp lý của điều khoản chuyển giao tài sản.
Trước khi khởi kiện, các bên nên tổ chức hòa giải với sự tham gia của những thành viên có uy tín trong gia đình, đồng thời lập văn bản ghi nhận rõ hiện trạng và phương án bảo tồn.
Nếu không thể thống nhất, các bên có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải thích và giải quyết các vấn đề liên quan đến hiệu lực di chúc, quyền thừa kế và việc thực hiện nghĩa vụ theo di chúc.
KẾT LUẬN PHÁP LÝ
Từ các quy định nêu trên, có thể rút ra bốn điểm cốt lõi.
Thứ nhất, người lập di chúc có quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế theo Điều 626 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, điều kiện yêu cầu anh H bảo tồn kiến trúc ngôi nhà về nguyên tắc có thể được ghi nhận trong di chúc.
Thứ hai, việc anh H sửa chữa ngôi nhà không đương nhiên đồng nghĩa với vi phạm di chúc. Theo Khoản 1 Điều 26 Luật Đất đai năm 2024, người sử dụng đất có quyền đối với tài sản gắn liền với đất; vì vậy, sửa chữa, gia cố để bảo toàn nhà cổ là việc thực hiện quyền hợp pháp nhằm bảo vệ tài sản. Phải xem xét nội dung và mức độ sửa chữa, đặc biệt là sửa chữa để bảo tồn, gia cố an toàn hay sửa chữa làm thay đổi bản chất kiến trúc. Hành vi bảo toàn tài sản không tự thân vi phạm nghĩa vụ di chúc hoặc quy định về đất đai.
Thứ ba, cần phân biệt rõ tài sản được để lại cho anh H với tư cách người thừa kế và tài sản được dành làm di sản dùng vào việc thờ cúng theo Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thứ tư, “Quỹ bảo tồn họ tộc” chưa được thành lập không thể được mặc nhiên xem là một pháp nhân có quyền tiếp nhận tài sản. Theo Điều 4 và Khoản 1 Điều 28 Luật Đất đai năm 2024, quỹ chưa thành lập cũng không thuộc đối tượng “Người sử dụng đất”, nên Cơ quan đăng ký đất đai có căn cứ từ chối thủ tục chuyển nhượng hoặc sang tên quyền sử dụng đất cho quỹ này. Việc xác định hậu quả pháp lý của điều khoản này phải căn cứ vào Điều 613, Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 và toàn bộ nội dung di chúc, chứ không thể tự động kết luận toàn bộ đất, nhà sẽ chuyển sang thừa kế theo pháp luật.
Một ngôi nhà cổ có thể là tài sản, nhưng đối với một gia đình, nó còn có thể là ký ức được xây dựng qua nhiều thế hệ. Pháp luật cần bảo vệ quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc, nhưng việc thực hiện ý chí ấy cũng cần được đặt trong một cách hiểu hợp lý, khả thi và phù hợp với thực tế.
Giữ gìn một ngôi nhà cổ không có nghĩa là để ngôi nhà đứng yên cho đến khi sụp đổ. Bảo tồn đúng nghĩa là làm mọi điều cần thiết để những giá trị cốt lõi của công trình có thể tiếp tục tồn tại qua thời gian.
GÓC NHÌN CHUYÊN GIA
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc tương tự về di chúc, thừa kế, tài sản dùng vào việc thờ cúng, quyền sử dụng đất hoặc bảo tồn nhà cổ, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

