THÔNG TƯ 99/2026/TT-BTC: QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH, MỨC CHI CHO GIẢNG VIÊN, SINH VIÊN, HỌC VIÊN CAO HỌC, NGHIÊN CỨU SINH, CÁN BỘ QUẢN LÝ TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN HẠT NHÂN
Từ ngày 28/8/2026, Thông tư số 99/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính chính thức có hiệu lực, quy định chế độ tài chính, mức chi cho giảng viên, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và cán bộ quản lý trong lĩnh vực điện hạt nhân. Văn bản không chỉ quy định về mức chi mà còn thiết lập cơ chế về nguồn kinh phí, nguyên tắc sử dụng, lập dự toán, quản lý, quyết toán và trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Trong quá trình chuẩn bị các điều kiện để phát triển điện hạt nhân, nguồn nhân lực là một trong những yếu tố có tính quyết định. Đây là lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, thời gian đào tạo dài, yêu cầu nghiêm ngặt về kỹ thuật, an toàn và kỷ luật nghề nghiệp.
Vì vậy, việc xây dựng cơ chế tài chính riêng cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực điện hạt nhân có ý nghĩa không chỉ đối với người học, giảng viên và cán bộ quản lý mà còn đối với chiến lược phát triển năng lực khoa học – công nghệ của đất nước.
Thông tư 99/2026/TT-BTC được Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành ngày 10/7/2026 và có hiệu lực từ 28/8/2026.
I. NHỮNG NỘI DUNG CỐT LÕI CỦA THÔNG TƯ 99/2026/TT-BTC
- Điều 1: Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Theo Điều 1, Thông tư quy định chế độ tài chính, mức chi cho:
- Giảng viên;
- Sinh viên;
- Học viên cao học;
- Nghiên cứu sinh;
- Cán bộ quản lý trong lĩnh vực điện hạt nhân.
Đây là phạm vi điều chỉnh trực tiếp của Thông tư.
Đáng chú ý, khoản 2 Điều 1 xác định khá rõ các nhóm đối tượng áp dụng.
Nhóm thứ nhất
Giảng viên, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và cán bộ quản lý trong lĩnh vực điện hạt nhân theo Nghị định số 176/2026/NĐ-CP và pháp luật có liên quan.
Nhóm thứ hai
Các cơ sở đào tạo được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trong lĩnh vực điện hạt nhân và các doanh nghiệp được Thủ tướng Chính phủ giao làm chủ đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân.
Nhóm thứ ba
Các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan.
Như vậy, đối tượng của Thông tư không chỉ là người trực tiếp được hưởng chính sách mà còn bao gồm các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp chủ đầu tư và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm liên quan đến quá trình thực hiện chính sách.
- Điều 2: Nguồn kinh phí thực hiện
Theo Điều 2, nguồn kinh phí thực hiện chính sách được thực hiện theo Điều 10 Nghị định số 176/2026/NĐ-CP và pháp luật có liên quan.
Các nguồn chủ yếu gồm:
Một là, chi thường xuyên ngân sách nhà nước của các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương theo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.
Hai là, kinh phí từ các chủ đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân.
Ba là, các khoản viện trợ, tài trợ, đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các nguồn huy động hợp pháp khác và nguồn tài chính của cơ sở đào tạo.
Quy định này cho thấy chính sách tài chính cho đào tạo nhân lực điện hạt nhân không chỉ dựa vào ngân sách nhà nước mà còn huy động nhiều nguồn lực hợp pháp khác.
- Điều 3: Nguyên tắc sử dụng kinh phí
Đây là một trong những điều khoản quan trọng nhất của Thông tư.
Theo Điều 3, cơ sở đào tạo, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân được giao quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước phải bảo đảm:
Đúng pháp luật về ngân sách nhà nước; đúng đối tượng; đúng mục đích; đúng chế độ và định mức chi.
Đồng thời, các chủ thể này chịu sự thanh tra, kiểm toán và giám sát của cơ quan có thẩm quyền.
Đặc biệt, khoản 3 Điều 3 quy định ưu tiên sử dụng các nguồn viện trợ, tài trợ, đóng góp, kinh phí do chủ đầu tư nhà máy điện hạt nhân chi trả và các nguồn tài chính hợp pháp của cơ sở đào tạo.
Ngân sách nhà nước không bố trí cho những nội dung đã được viện trợ, tài trợ, đóng góp hoặc đã được chủ đầu tư nhà máy điện hạt nhân chi trả.
Một điểm có ý nghĩa trực tiếp đối với người thụ hưởng là khoản 4 Điều 3: nếu chính sách ưu đãi được quy định ở nhiều văn bản khác nhau thì đối tượng được hưởng mức ưu đãi cao nhất.
Đây là quy định có ý nghĩa bảo đảm quyền lợi cho người học, giảng viên và cán bộ quản lý thuộc diện hưởng chính sách.
- Điều 4: Nội dung và mức chi các hoạt động sử dụng ngân sách nhà nước
Theo Điều 4, nội dung và mức chi thực hiện chính sách ưu đãi trong lĩnh vực điện hạt nhân trước hết thực hiện theo Nghị định số 176/2026/NĐ-CP.
Thông tư 99/2026/TT-BTC hướng dẫn thêm những nội dung và mức chi mà Nghị định chưa quy định cụ thể.
Các nhóm nội dung đáng chú ý gồm:
Đào tạo, thực tập, bồi dưỡng trong nước
Theo khoản 1 Điều 4, thực hiện theo Thông tư số 100/2025/TT-BTC về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức.
Đào tạo, thực tập, bồi dưỡng ở nước ngoài
Theo khoản 2 Điều 4, thực hiện theo Thông tư số 140/2025/TT-BTC về chế độ công tác phí đi công tác ngắn hạn ở nước ngoài do ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí.
Hội nghị, hội thảo khoa học
Theo khoản 3 Điều 4, thực hiện theo Thông tư số 40/2017/TT-BTC, được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 12/2025/TT-BTC.
Chính sách ưu đãi về học phí
Theo khoản 4 Điều 4, thực hiện theo pháp luật về học phí và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
Đào tạo ở nước ngoài
Theo khoản 5 Điều 4, chính sách đối với sinh viên đại học, học viên cao học và nghiên cứu sinh các chuyên ngành trong lĩnh vực điện hạt nhân ở nước ngoài được thực hiện theo Nghị định số 176/2026/NĐ-CP và Thông tư số 146/2025/TT-BTC.
Các chính sách ưu đãi khác
Khoản 6 Điều 4 quy định việc chi cho các chính sách như:
- Miễn phí ký túc xá;
- Miễn phí giáo trình đào tạo chuyên ngành điện hạt nhân;
- Sách chuyên khảo chuyên ngành điện hạt nhân.
Việc chi phải căn cứ vào hóa đơn, chứng từ hợp pháp, hợp lệ; bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả và trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao.
II. NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI THỰC HIỆN THÔNG TƯ
- Chính sách không chỉ dành cho sinh viên
Một cách hiểu chưa đầy đủ là Thông tư chỉ hỗ trợ sinh viên.
Thực tế, Điều 1 xác định phạm vi chính sách đối với cả giảng viên, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và cán bộ quản lý trong lĩnh vực điện hạt nhân.
Điều này cho thấy chính sách được xây dựng theo hướng phát triển toàn bộ hệ sinh thái nhân lực, từ đào tạo, giảng dạy đến quản lý.
- Cơ chế tài chính được thiết kế theo nhiều nguồn
Không chỉ ngân sách nhà nước, Thông tư còn xác định kinh phí từ chủ đầu tư nhà máy điện hạt nhân, viện trợ, tài trợ, đóng góp tự nguyện và nguồn tài chính hợp pháp của cơ sở đào tạo.
Cách tiếp cận này giúp huy động thêm nguồn lực xã hội cho một lĩnh vực có chi phí đào tạo và nghiên cứu rất cao.
- Phải sử dụng kinh phí đúng đối tượng, đúng mục đích
Theo Điều 3, nguồn kinh phí phải được quản lý, sử dụng đúng quy định pháp luật, đúng đối tượng, mục đích, chế độ và định mức.
Đây không chỉ là yêu cầu về tài chính mà còn là cơ chế bảo đảm chính sách đến đúng người, đúng nội dung và hạn chế thất thoát, lãng phí.
- Người thụ hưởng được hưởng mức ưu đãi cao nhất khi có nhiều quy định
Khoản 4 Điều 3 là điểm cần đặc biệt lưu ý.
Trong trường hợp cùng một chính sách ưu đãi được quy định ở nhiều văn bản khác nhau, giảng viên, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và cán bộ quản lý được hưởng mức ưu đãi cao nhất.
Đây là quy định có tính bảo đảm quyền lợi và tránh việc áp dụng chồng chéo theo hướng bất lợi cho đối tượng thụ hưởng.
- Mức chi không phải tất cả đều được quy định trực tiếp trong Thông tư 99
Một điểm quan trọng về kỹ thuật pháp lý là Thông tư 99 không quy định lại toàn bộ mức chi.
Điều 4 chủ yếu dẫn chiếu đến các văn bản chuyên ngành và hướng dẫn những nội dung mà Nghị định 176/2026/NĐ-CP chưa quy định cụ thể.
Do đó, khi thực hiện cần đọc đồng thời:
Nghị định 176/2026/NĐ-CP → Thông tư 99/2026/TT-BTC → các thông tư được dẫn chiếu.
Cách tiếp cận này giúp tránh hiểu sai rằng chỉ cần áp dụng riêng Thông tư 99 là có thể xác định đầy đủ mọi chế độ, mức chi.
III. ĐIỀU 5: LẬP DỰ TOÁN, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VÀ QUYẾT TOÁN
Theo Điều 5, việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước để thực hiện chính sách ưu đãi đối với nguồn nhân lực điện hạt nhân thực hiện theo:
- Điều 10, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 176/2026/NĐ-CP;
- Thông tư số 146/2025/TT-BTC;
- Pháp luật về ngân sách nhà nước;
- Pháp luật về kế toán;
- Các quy định pháp luật có liên quan.
Điều này cho thấy chính sách hỗ trợ đào tạo không dừng ở việc xác định “được hưởng bao nhiêu”, mà còn đặt ra yêu cầu về lập dự toán – quản lý – sử dụng – quyết toán.
Đây là cơ sở để bảo đảm nguồn tiền được sử dụng đúng quy định và có thể kiểm tra, kiểm soát trong quá trình thực hiện.
IV. ĐIỀU 6: TRÁCH NHIỆM TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 6 phân định trách nhiệm của các chủ thể có liên quan.
Theo khoản 1 Điều 6, Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ sở đào tạo, cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương và cá nhân có liên quan để:
- Kiểm tra;
- Giám sát việc quản lý, sử dụng kinh phí;
- Đánh giá;
- Tổng hợp kết quả đào tạo.
Việc tổng hợp được thực hiện trước ngày 20/12 hằng năm hoặc đột xuất khi có yêu cầu của cấp có thẩm quyền.
Theo khoản 2 Điều 6, chủ đầu tư nhà máy điện hạt nhân có trách nhiệm phê duyệt và bố trí kinh phí thực hiện chính sách ưu đãi theo Nghị định 176/2026/NĐ-CP và Thông tư 99/2026/TT-BTC.
Các cơ sở đào tạo thực hiện chính sách ưu đãi đối với các đối tượng thuộc thẩm quyền quản lý.
Đối với nguồn kinh phí do chủ đầu tư nhà máy điện hạt nhân chi trả, việc quản lý và sử dụng thực hiện theo pháp luật về doanh nghiệp hiện hành.
V. ĐIỀU 7: HIỆU LỰC VÀ QUY ĐỊNH CHUYỂN TIẾP, DẪN CHIẾU
Đây là điều khoản rất đáng chú ý và cần được đưa vào bài để người đọc không chỉ biết Thông tư quy định gì mà còn biết áp dụng từ thời điểm nào và xử lý chính sách đang thực hiện ra sao.
- Thời điểm có hiệu lực
Theo khoản 1 Điều 7, Thông tư 99/2026/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 28/8/2026.
- Quy định chuyển tiếp đối với người đang được đào tạo
Theo khoản 2 Điều 7, chính sách ưu đãi, hỗ trợ người đi đào tạo trong lĩnh vực điện hạt nhân đang được thực hiện theo:
- Nghị định số 124/2013/NĐ-CP;
- Thông tư liên tịch số 208/2014/TTLT-BTC-BGDĐT;
thì tiếp tục được thực hiện cho đến khi kết thúc chương trình đào tạo.
Đây là một quy định chuyển tiếp rất quan trọng.
Có thể hiểu rằng người đang trong quá trình đào tạo theo chính sách cũ không bị đặt vào tình trạng thay đổi chính sách giữa chừng làm ảnh hưởng đến quá trình học tập đang thực hiện.
- Quy định dẫn chiếu khi văn bản được sửa đổi
Theo khoản 3 Điều 7, trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật được dẫn chiếu trong Thông tư được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đó.
Đây là kỹ thuật dẫn chiếu rất quan trọng, bởi trong quá trình áp dụng, các văn bản như Nghị định 176/2026/NĐ-CP hoặc các thông tư được dẫn chiếu có thể tiếp tục được sửa đổi.
- Xử lý khó khăn, vướng mắc
Theo khoản 4 Điều 7, trong quá trình triển khai, nếu có khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu, giải quyết.
VI. GÓC NHÌN VÀ NHẬN ĐỊNH CỦA THS. NGUYỄN HỮU LONG
“Muốn phát triển một ngành công nghệ cao, trước hết phải xây dựng được một đội ngũ con người đủ năng lực để làm chủ công nghệ.”
Theo góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, điểm đáng chú ý nhất của Thông tư 99/2026/TT-BTC không đơn thuần nằm ở những khoản chi cụ thể, mà nằm ở tư duy đầu tư dài hạn cho nguồn nhân lực chiến lược.
Điện hạt nhân là lĩnh vực đặc biệt. Một quốc gia không thể làm chủ công nghệ điện hạt nhân chỉ bằng việc đầu tư nhà máy, thiết bị và cơ sở hạ tầng.
Đằng sau mỗi công nghệ là con người.
Đó phải là đội ngũ kỹ sư, chuyên gia, nhà nghiên cứu, giảng viên, cán bộ quản lý có kiến thức chuyên sâu, kỹ năng thực hành, khả năng nghiên cứu và đặc biệt là ý thức cao về an toàn.
Vì vậy, việc thiết lập một cơ chế tài chính riêng cho đào tạo nguồn nhân lực điện hạt nhân là bước cụ thể để biến mục tiêu phát triển nhân lực thành chính sách có nguồn lực thực hiện.
Tôi cho rằng có thể nhìn chính sách này theo một chuỗi:
Đào tạo → thực hành → nghiên cứu → tích lũy kinh nghiệm → sử dụng → phát triển chuyên gia.
Nếu chỉ dừng ở việc hỗ trợ tài chính cho người học mà không gắn với chất lượng đào tạo, nhu cầu nhân lực và khả năng sử dụng sau đào tạo thì hiệu quả chính sách sẽ chưa đạt được mục tiêu cuối cùng.
Điểm tích cực của Thông tư là chính sách không chỉ hướng tới sinh viên mà còn bao phủ giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và cán bộ quản lý.
Đây chính là cách tiếp cận phát triển nguồn nhân lực theo hệ thống.
Một chính sách tài chính tốt không chỉ trả lời câu hỏi “chi bao nhiêu?”, mà phải trả lời được câu hỏi lớn hơn:
“Sau khi Nhà nước và xã hội đầu tư nguồn lực, chúng ta sẽ có một đội ngũ nhân lực như thế nào?”
Ở góc độ quản trị, tôi đặc biệt lưu ý đến Điều 3 và Điều 6 của Thông tư.
Điều 3 đặt ra nguyên tắc quản lý, sử dụng kinh phí đúng đối tượng, đúng mục đích, đúng chế độ; Điều 6 phân định trách nhiệm kiểm tra, giám sát, bố trí và thực hiện kinh phí.
Đây là hai mắt xích quan trọng để biến chính sách trên giấy thành chính sách thực tế.
VII. 6 ĐIỂM CẦN NHỚ VỀ THÔNG TƯ 99/2026/TT-BTC
- Phạm vi: Chính sách tài chính cho nguồn nhân lực trong lĩnh vực điện hạt nhân.
- Đối tượng: Giảng viên, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, cán bộ quản lý và các cơ sở đào tạo, chủ đầu tư cùng các chủ thể liên quan theo Điều 1.
- Nguồn kinh phí: Ngân sách nhà nước, chủ đầu tư nhà máy điện hạt nhân, viện trợ, tài trợ, đóng góp và các nguồn hợp pháp khác theo Điều 2.
- Nguyên tắc: Đúng đối tượng, đúng mục đích, đúng chế độ, đúng định mức; trường hợp có nhiều chính sách thì hưởng mức ưu đãi cao nhất theo Điều 3.
- Nội dung chi: Đào tạo, thực tập, bồi dưỡng trong nước và nước ngoài, hội nghị, hội thảo, học phí, đào tạo ở nước ngoài, ký túc xá, giáo trình và sách chuyên khảo theo Điều 4.
- Chuyển tiếp: Chính sách đào tạo đang thực hiện theo Nghị định 124/2013/NĐ-CP và Thông tư liên tịch 208/2014/TTLT-BTC-BGDĐT được tiếp tục thực hiện đến khi kết thúc chương trình đào tạo theo khoản 2 Điều 7.
VIII. KẾT LUẬN
Thông tư số 99/2026/TT-BTC là một văn bản có ý nghĩa thiết thực trong việc hoàn thiện cơ chế tài chính phục vụ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực điện hạt nhân.
Điểm đáng chú ý của Thông tư là không chỉ quy định về mức chi, mà xây dựng một hệ thống tương đối đầy đủ gồm:
Đối tượng → nguồn kinh phí → nguyên tắc sử dụng → nội dung, mức chi → lập dự toán, quản lý, quyết toán → tổ chức thực hiện → hiệu lực và chuyển tiếp.
Đặc biệt, 7 Điều của Thông tư tạo thành một chuỗi quy định có tính liên kết chặt chẽ.
Trong đó:
- Điều 1 xác định phạm vi và đối tượng;
- Điều 2 xác định nguồn kinh phí;
- Điều 3 đặt ra nguyên tắc sử dụng kinh phí;
- Điều 4 quy định nội dung và mức chi;
- Điều 5 quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán;
- Điều 6 quy định trách nhiệm tổ chức thực hiện;
- Điều 7 quy định hiệu lực, chuyển tiếp và dẫn chiếu.
Đây là cấu trúc cần được nhìn nhận đầy đủ khi nghiên cứu và triển khai Thông tư, thay vì chỉ tập trung vào các khoản hỗ trợ tài chính.
Về lâu dài, hiệu quả của chính sách không nên chỉ được đo bằng số tiền đã chi, mà cần được đánh giá bằng chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo, năng lực nghiên cứu, khả năng làm chủ công nghệ và mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển điện hạt nhân của đất nước.
Thông tư 99/2026/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 28/8/2026.
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

