THÔNG TƯ SỐ 57/2026/TT-BGDĐT: TỪ “TRƯỜNG ĐẠT CHUẨN” ĐẾN VĂN HÓA CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC – NHỮNG ĐIỀU PHỤ HUYNH, GIÁO VIÊN VÀ NHÀ TRƯỜNG CẦN BIẾT

THÔNG TƯ SỐ 57/2026/TT-BGDĐT: TỪ “TRƯỜNG ĐẠT CHUẨN” ĐẾN VĂN HÓA CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC – NHỮNG ĐIỀU PHỤ HUYNH, GIÁO VIÊN VÀ NHÀ TRƯỜNG CẦN BIẾT

I. BỐI CẢNH THỰC TIỄN – KHI “CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC” KHÔNG CHỈ LÀ MỘT DANH HIỆU

Trong nhận thức của xã hội, cụm từ “trường đạt chuẩn quốc gia” thường được nhìn nhận như một dấu hiệu cho thấy một cơ sở giáo dục có chất lượng tốt. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục trên thực tế không thể chỉ được đo bằng một danh hiệu, một bộ hồ sơ hay một thời điểm kiểm tra.

Một ngôi trường có thể có cơ sở vật chất tốt nhưng nếu quản trị yếu, đội ngũ chưa đáp ứng yêu cầu, môi trường giáo dục chưa thực sự an toàn hoặc người học chưa nhận được sự hỗ trợ phù hợp thì chất lượng giáo dục vẫn chưa thể được xem là bền vững.

Ngược lại, một cơ sở giáo dục thực sự có chất lượng phải có khả năng tự nhìn nhận mình đang ở đâu, nhận diện điểm mạnh – điểm yếu, xác định nguyên nhân, xây dựng kế hoạch khắc phục và chứng minh được sự tiến bộ theo thời gian.

Đây chính là tư duy quan trọng được thể hiện trong Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT. Thông tư được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 07/7/2026, quy định toàn diện về bảo đảm chất lượng giáo dục đối với cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên; đồng thời quy định việc công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường mầm non và trường phổ thông.

Điểm đáng chú ý là Thông tư không tiếp cận chất lượng giáo dục theo hướng “làm hồ sơ để được công nhận”, mà đặt trọng tâm vào một quá trình nội bộ, thường xuyên và liên tục của chính cơ sở giáo dục.

II. NHỮNG ĐIỂM MỚI, NỔI BẬT CỦA THÔNG TƯ 57/2026/TT-BGDĐT – NHỮNG ĐIỀU NHÀ TRƯỜNG, GIÁO VIÊN VÀ PHỤ HUYNH CẦN BIẾT

1. Bảo đảm chất lượng giáo dục trở thành một quá trình thường xuyên, liên tục

Điểm đầu tiên cần nhận thức đúng là bảo đảm chất lượng giáo dục không còn được nhìn nhận đơn thuần như một hoạt động phục vụ kiểm tra, đánh giá hoặc công nhận đạt chuẩn.

Theo khoản 2 Điều 2 Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT, bảo đảm chất lượng giáo dục là quá trình nội bộ được cơ sở giáo dục thực hiện thường xuyên, liên tục thông qua quản trị, tổ chức hoạt động giáo dục và cải tiến chất lượng nhằm bảo đảm đạt mục tiêu giáo dục.

Điều này làm thay đổi cách tiếp cận, không phải đến khi có đoàn đánh giá mới chuẩn bị hồ sơ mà mỗi ngày nhà trường phải tự kiểm tra, tự nhận diện vấn đề và tự cải tiến. Đây là sự chuyển dịch từ tư duy “đối phó với đánh giá” sang “chủ động quản trị chất lượng”.

2. “Tự đánh giá” phải gắn với phát hiện hạn chế và cải tiến thực chất

Theo khoản 4 Điều 2 Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT, tự đánh giá là quá trình cơ sở giáo dục tự xem xét, phân tích và đánh giá việc thực hiện các yêu cầu bảo đảm chất lượng; từ đó xác định điểm mạnh, hạn chế, nguyên nhân và xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng.

Đây là điểm rất đáng chú ý dưới góc nhìn pháp lý và quản trị. Nếu một báo cáo tự đánh giá chỉ toàn những nhận xét tích cực nhưng không chỉ ra được hạn chế thì chưa chắc đã phản ánh một cơ sở giáo dục có chất lượng cao. Bởi tự đánh giá trung thực phải dám nhìn thấy những điều chưa tốt.

Mục đích cuối cùng không phải để chứng minh rằng “trường tôi hoàn hảo”, mà để trả lời:

  • Nhà trường đang làm tốt điều gì?
  • Điều gì còn hạn chế?
  • Nguyên nhân nằm ở đâu?
  • Ai chịu trách nhiệm cải tiến?
  • Bao giờ phải hoàn thành?
  • Kết quả cải tiến được kiểm chứng bằng dữ liệu nào?

Đó mới là tinh thần của quản trị chất lượng hiện đại.

3. Hệ thống đánh giá gồm 4 tiêu chuẩn và 15 tiêu chí – chất lượng được nhìn nhận toàn diện

Đối với các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên, các  Phụ lục I, II, III của Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT xây dựng 04 tiêu chuẩn với tổng số 15 tiêu chí, gồm:

  • Tiêu chuẩn 1: Quản trị nhà trường và bảo đảm chất lượng – 4 tiêu chí.
  • Tiêu chuẩn 2: Phát triển đội ngũ – 3 tiêu chí.
  • Tiêu chuẩn 3: Thực hiện chương trình, đổi mới phương pháp giáo dục và phát triển người học – 5 tiêu chí.
  • Tiêu chuẩn 4: Điều kiện giáo dục, môi trường an toàn và phối hợp xã hội – 3 tiêu chí.

Trong đó có các tiêu chí bắt buộc là các tiêu chí cơ sở giáo dục phải đáp ứng khi xác định mức thực hiện hoạt động bảo đảm chất lượng giáo dục và khi xem xét công nhận đạt chuẩn quốc gia theo quy định tại Thông tư này, gồm: Tiêu chí 1.3, Tiêu chí 1.4 thuộc Tiêu chuẩn 1; Tiêu chí 2.1, Tiêu chí 2.2 thuộc Tiêu chuẩn 2; Tiêu chí 3.1, Tiêu chí 3.2 thuộc Tiêu chuẩn 3; Tiêu chí 4.1, Tiêu chí 4.2 thuộc Tiêu chuẩn 4;

Cách thiết kế này cho thấy chất lượng giáo dục được nhìn nhận trên nhiều phương diện chứ không chỉ căn cứ vào kết quả học tập.

Một trường muốn phát triển bền vững phải đồng thời quan tâm đến: quản trị – đội ngũ – chương trình – người học – cơ sở vật chất – an toàn – sức khỏe – phối hợp gia đình và cộng đồng. Đây là cách tiếp cận rất gần với quan điểm giáo dục lấy người học làm trung tâm.

4. Mức 2 không đơn giản là “nhiều hồ sơ hơn” mà phải chứng minh có cải tiến

Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT, tiêu chí được đánh giá theo 02 mức: Mức 1 và Mức 2. Mức 1 phản ánh việc cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu bảo đảm chất lượng; còn Mức 2 phản ánh việc cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu và có minh chứng về kết quả cải tiến chất lượng.

Điểm này cần được hiểu thật chính xác. Mức 2 không phải là Mức 1 cộng thêm một tập hồ sơ. Mức 2 đòi hỏi phải chứng minh rằng những hoạt động cải tiến đã tạo ra kết quả hoặc tác động thực chất.

Ví dụ, nếu nhà trường nhận thấy vấn đề về an toàn học sinh thì không chỉ cần có kế hoạch “tăng cường an toàn”, mà phải có căn cứ cho thấy các giải pháp đã triển khai và tình hình thực tế đã được cải thiện.

Từ góc nhìn giáo dục, có kế hoạch là bước đầu, có kết quả sau cải tiến mới là chất lượng.

5. Không phải cứ đạt nhiều tiêu chí việc cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu bảo đảm chất lượng giáo dục ở Mức 1 hoặc Mức 2

Đây là một trong những quy định người đứng đầu cơ sở giáo dục cần đặc biệt lưu ý.

Theo khoản 3 Điều 5 Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT, cơ sở giáo dục được xác định đáp ứng yêu cầu bảo đảm chất lượng giáo dục:

  • Đạt Mức 1 khi tất cả các tiêu chí bắt buộc đạt Mức 1 và có ít nhất 05 trong số 07 tiêu chí còn lại đạt Mức 1 trở lên;
  • Đạt Mức 2 khi tất cả các tiêu chí bắt buộc đạt Mức 2 và có ít nhất 05 trong số 07 tiêu chí còn lại đạt Mức 2, các tiêu chí còn lại tối thiểu đạt Mức 1.

Như vậy, cần đặc biệt chú ý đến khái niệm “tiêu chí bắt buộc”. Theo khoản 7 Điều 2 Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT, tiêu chí bắt buộc là tiêu chí mà cơ sở giáo dục phải đạt theo mức quy định; nếu không đạt tiêu chí bắt buộc thì không được xác định đạt mức thực hiện hoạt động bảo đảm chất lượng hoặc công nhận trường đạt chuẩn quốc gia tương ứng.

Thông điệp thực tiễn ở đây rất rõ: Không nên chạy theo việc “có thật nhiều tiêu chí đạt” mà bỏ qua một tiêu chí bắt buộc. Quản trị chất lượng phải biết xác định đúng điểm trọng yếu.

6. Người đứng đầu cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của dữ liệu

Điều 25 Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT đặt trách nhiệm trực tiếp lên cơ sở giáo dục. Cơ sở giáo dục phải phân công trách nhiệm, tổ chức thực hiện hoạt động bảo đảm chất lượng; hằng năm phải tự đánh giá, xây dựng và theo dõi kế hoạch cải tiến; đồng thời phải cập nhật dữ liệu, thực hiện báo cáo và quản lý, lưu trữ đầy đủ hồ sơ, dữ liệu, minh chứng.

Đặc biệt, khoản 5 Điều 25 Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT quy định cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin, dữ liệu, báo cáo và minh chứng đã cung cấp. Đây là điểm cần được quán triệt sâu sắc.

Trách nhiệm giải trình không chỉ là trách nhiệm hành chính, trong trường hợp có vi phạm, còn có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý tương ứng theo quy định pháp luật. Vì vậy, người đứng đầu cần xây dựng cơ chế kiểm soát dữ liệu, phân quyền rõ ràng và kiểm tra trước khi xác nhận các báo cáo, minh chứng.

7. Điều kiện công nhận trường đạt chuẩn quốc gia

Theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT, để cơ sở giáo dục mầm non và  phổ thông  được công nhận đạt
chuẩn quốc gia thì cần phải đồng thời đáp ứng các yêu cầu:

  • Có ít nhất một khóa trẻ em hoàn thành chương trình giáo dục ở độ tuổi cao nhất mà trường tổ chức hoặc một khóa học sinh hoàn thành chương trình cấp học tương ứng; đối với trường phổ thông có nhiều cấp học, có ít nhất một khóa học sinh hoàn thành chương trình của cấp học cao nhất;
  • Có dữ liệu tự đánh giá, kết quả thực hiện kế hoạch cải tiến chất lượng và dữ liệu phục vụ theo dõi, cải tiến chất lượng của ít nhất 03 năm học liên tiếp trước thời điểm xem xét công nhận; đối với trường được thành lập trên cơ sở sáp nhập, hợp nhất, chia, tách hoặc thay đổi cấu trúc cấp học, dữ liệu được xác định trên cơ sở dữ liệu của trường sau tổ chức lại và dữ liệu được kế thừa theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Thông tư này;
  • Đạt mức thực hiện hoạt động bảo đảm chất lượng giáo dục theo quy định tại Thông tư này;
  • Đáp ứng các yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, an toàn trường học và các điều kiện khác theo quy định của pháp luật đối với mức độ công nhận tương ứng.

Quy định trên không đồng nhất “đạt chuẩn quốc gia” với một tiêu chí đơn lẻ. Trường phải đồng thời đáp ứng tất cả các tiêu chí trên thì mới đcược công nhận là đạt chuẩn quốc gia. Cách thiết kế này tương đối hợp lý vì chất lượng của một trường học cần được chứng minh bằng quá trình, không thể chỉ đánh giá tại một thời điểm.

8. Chuyển đổi số được khuyến khích nhưng không biến thành rào cản đối với cơ sở giáo dục

Một điểm rất thực tế là Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT không đặt ra yêu cầu cứng nhắc rằng mọi cơ sở giáo dục phải ngay lập tức số hóa toàn bộ minh chứng.

Theo hướng dẫn tại Phụ lục Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT, đối với cơ sở giáo dục chưa đủ điều kiện số hóa, vẫn được phép sử dụng minh chứng bản giấy nhưng phải mô tả rõ vị trí lưu trữ trong danh mục minh chứng.

Đồng thời, Thông tư khuyến khích sử dụng nền tảng số để quản lý minh chứng và chuẩn hóa dữ liệu phục vụ tự đánh giá, cải tiến chất lượng, quản trị cơ sở giáo dục và thẩm định công nhận trường đạt chuẩn quốc gia.

Điều này thể hiện một nguyên tắc hợp lý: Chuyển đổi số phải phục vụ chất lượng giáo dục, không phải tạo thêm áp lực hành chính cho giáo viên.

9. Phụ huynh và cộng đồng có vai trò trong chất lượng giáo dục

Thông tư không đặt chất lượng giáo dục trong phạm vi khép kín của nhà trường. Ở tiêu chuẩn số 4 ở các Phụ lục I, II, III Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT về điều kiện giáo dục, môi trường an toàn và phối hợp xã hội, việc phối hợp giữa gia đình – cộng đồng – các tổ chức liên quan được đặt trong hệ thống tiêu chí đánh giá.

Đối với cơ sở giáo dục phổ thông, nội dung đánh giá còn xem xét sự tham gia phù hợp của cha mẹ học sinh vào hoạt động giáo dục, bảo vệ an toàn, hướng nghiệp và hỗ trợ học sinh; đồng thời yêu cầu nhà trường đánh giá hiệu quả phối hợp và sử dụng kết quả đó để cải thiện hoạt động giáo dục. Đây là một thông điệp rất đáng chú ý.

Phụ huynh không chỉ là người “đóng góp nguồn lực” cho nhà trường, mà trước hết là đối tác giáo dục của nhà trường. Sự phối hợp phải hướng đến:

  • An toàn của học sinh;
  • Sức khỏe và hạnh phúc của học sinh;
  • Kỹ năng sống;
  • Hướng nghiệp;
  • Giáo dục hòa nhập;
  • Năng lực số;
  • Đổi mới sáng tạo;
  • Sự tiến bộ và phát triển của người học.

Đồng thời, các nguồn lực huy động phải được quản lý, sử dụng minh bạch, hợp pháp và có tác động tích cực đến người học.

10. Thông tư có hiệu lực từ ngày 07/7/2026 và thay thế một loạt quy định trước đây

Đây là điểm có ý nghĩa trực tiếp đối với các cơ sở giáo dục đang thực hiện công tác đánh giá chất lượng và chuẩn quốc gia.

Theo Điều 26 Thông tư số 57/2026/TT-BGDĐT, Thông tư này có hiệu lực từ ngày 07/7/2026. Đồng thời, Thông tư bãi bỏ:

  • Thông tư số 19/2018/TT-BGDĐT;
  • Thông tư số 17/2018/TT-BGDĐT;
  • Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT;
  • Thông tư số 22/2024/TT-BGDĐT;
  • Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Điều này có nghĩa là các cơ sở giáo dục cần rà soát lại toàn bộ quy trình, tiêu chí, hồ sơ, dữ liệu và kế hoạch bảo đảm chất lượng đang áp dụng để bảo đảm phù hợp với quy định mới. Không nên tiếp tục áp dụng máy móc bộ tiêu chí hoặc quy trình cũ khi Thông tư mới đã có hiệu lực.

III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ

Dưới góc nhìn tích hợp của ThS. Nguyễn Hữu Long, Thông tư 57/2026/TT-BGDĐT không chỉ đặt ra các tiêu chí pháp lý về bảo đảm chất lượng giáo dục mà còn hướng tới thay đổi tư duy quản trị và văn hóa giáo dục trong mỗi nhà trường.

1. Từ “sợ đánh giá” sang “tự đánh giá để tiến bộ”

Tự đánh giá phải là cơ hội để nhà trường nhìn nhận đúng điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân để cải tiến, chứ không phải hoạt động nhằm che giấu khuyết điểm hay chạy theo thành tích.

2. Không biến giáo viên thành “người làm hồ sơ”

Dữ liệu, hồ sơ và minh chứng phải phục vụ hoạt động giáo dục. Việc ưu tiên sử dụng dữ liệu sẵn có, hồ sơ điện tử và hạn chế minh chứng trùng lặp giúp giảm áp lực hành chính, tạo điều kiện để giáo viên tập trung hơn vào chuyên môn và người học.

3. Lấy người học làm trung tâm

Chất lượng giáo dục không chỉ thể hiện qua điểm số mà còn ở môi trường an toàn, lành mạnh, tôn trọng, hỗ trợ và tạo cơ hội phát triển cho người học. Nhà trường cần quan tâm cả kết quả học tập, sức khỏe, tâm lý và sự tiến bộ của học sinh.

4. Quản trị bằng dữ liệu, trách nhiệm và minh bạch

Nhà trường cần chuyển từ quản lý dựa nhiều vào cảm tính sang sử dụng dữ liệu, minh chứng xác thực và có thể kiểm chứng. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin, dữ liệu và báo cáo đã cung cấp.

5. Nhà trường – gia đình – xã hội cùng chịu trách nhiệm

Chất lượng giáo dục không phải trách nhiệm riêng của nhà trường. Sự phối hợp giữa nhà trường, cha mẹ học sinh và cộng đồng cần hướng tới an toàn, sức khỏe, sự tiến bộ và phát triển toàn diện của người học.

IV. KHUYẾN NGHỊ THỰC TIỄN CHO NHÀ TRƯỜNG – GIÁO VIÊN – PHỤ HUYNH – HỌC SINH VÀ CƠ QUAN QUẢN LÝ

Từ những yêu cầu của Thông tư 57/2026/TT-BGDĐT, để bảo đảm các quy định đi vào thực chất, ThS. Nguyễn Hữu Long đưa ra 6 khuyến nghị:

1. Đối với nhà trường: Xây dựng văn hóa chất lượng thay vì chạy theo thành tích

Nhà trường cần tổ chức tự đánh giá trung thực, khách quan, xác định rõ điểm mạnh, hạn chế, nguyên nhân và xây dựng kế hoạch cải tiến có mục tiêu, người chịu trách nhiệm và thời gian thực hiện cụ thể. Không nên coi việc đạt chuẩn quốc gia là đích đến cuối cùng mà phải xem đó là động lực để tiếp tục nâng cao chất lượng.

2. Đối với cán bộ quản lý và giáo viên: Giảm hồ sơ, tăng chất lượng thực chất

Cần ưu tiên sử dụng dữ liệu, hồ sơ điện tử và minh chứng đã có; hạn chế việc tạo thêm các loại hồ sơ trùng lặp. Cán bộ quản lý cần phân công rõ trách nhiệm, kiểm soát tính chính xác của dữ liệu; giáo viên cần được tạo điều kiện tập trung vào dạy học, giáo dục và hỗ trợ người học, thay vì dành quá nhiều thời gian cho thủ tục hành chính.

3. Đối với giáo viên: Lấy sự tiến bộ của người học làm thước đo quan trọng

Giáo viên cần chủ động theo dõi kết quả học tập, sự phát triển, tâm lý và những khó khăn của học sinh để kịp thời hỗ trợ. Đổi mới phương pháp giáo dục không chỉ nhằm nâng cao thành tích mà phải hướng đến việc giúp người học hiểu, phát triển năng lực, tự tin và tiến bộ thực chất.

4. Đối với phụ huynh: Đồng hành thay vì chỉ kiểm tra hoặc yêu cầu

Cha mẹ học sinh cần chủ động phối hợp với nhà trường, chia sẻ thông tin về đặc điểm, hoàn cảnh và những khó khăn của con; đồng thời tôn trọng chuyên môn của giáo viên. Sự phối hợp cần hướng đến an toàn, sức khỏe, sự tiến bộ và phát triển toàn diện của học sinh, phù hợp với yêu cầu về phối hợp gia đình – nhà trường – cộng đồng trong Thông tư.

5. Đối với học sinh: Chủ động tham gia và chịu trách nhiệm với quá trình học tập

Học sinh cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động giáo dục, phản hồi về môi trường học tập, rèn luyện kỹ năng tự học, kỹ năng ứng xử và ý thức trách nhiệm. Các em không chỉ là đối tượng được đánh giá, mà phải được nhìn nhận là chủ thể của quá trình giáo dục.

6. Đối với cơ quan quản lý: Kiểm tra để hỗ trợ cải tiến, không tạo áp lực thành tích

Cơ quan quản lý cần hướng dẫn thống nhất, tăng cường hỗ trợ chuyên môn, kiểm tra dựa trên dữ liệu và thực chất; đồng thời tránh biến đánh giá chất lượng thành cuộc chạy đua thành tích. Việc đánh giá cần giúp cơ sở giáo dục nhận diện đúng vấn đề, khắc phục hạn chế và nâng cao chất lượng bền vững.

Thông điệp nhân văn: “Tóm lại, Thông tư 57/2026/TT-BGDĐT không chỉ nói về tiêu chuẩn của một ngôi trường mà còn nói về trách nhiệm của chúng ta đối với mỗi người học. Một ngôi trường tốt không phải là nơi không có hạn chế, mà là nơi dám nhìn thẳng vào hạn chế và không ngừng cải tiến. Một người thầy tốt không chỉ truyền đạt kiến thức, mà còn biết lắng nghe, bảo vệ và nâng đỡ học sinh trên hành trình trưởng thành. Và một nền giáo dục có chất lượng phải là nền giáo dục trong đó mỗi đứa trẻ được tôn trọng, được an toàn, được yêu thương và có cơ hội phát triển tốt nhất khả năng của mình.”

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

Để lại một bình luận