LUẬT SỐ 64/2025/QH15 LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT NĂM 2025 – HOÀN THIỆN QUY TRÌNH XÂY DỰNG PHÁP LUẬT, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Ngày 19/02/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua (Luật số 64/2025/QH15). Luật được ban hành nhằm thay thế Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020), tạo bước đổi mới toàn diện trong công tác xây dựng pháp luật, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, nâng cao tính minh bạch, khả thi và kịp thời của hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế.
I. NHỮNG ĐIỂM MỚI NỔI BẬT CỦA LUẬT
- Từ 01/7/2025, bổ sung 3 loại văn bản mới trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
Theo quy định mới tại Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Kể từ ngày 01/7/2025, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật sẽ có thêm 03 loại văn bản mới, gồm:
- Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã;
- Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Trước 01/7/2025: Tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025, số 64/2025/QH15, hệ thống văn bản pháp luật không bao gồm:
- Quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh;
- Chính thức quy định thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp xã
Từ ngày 01/7/2025, Luật số 87/2025/QH15 chính thức bổ sung quy định cho phép Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Cụ thể, tại khoản 4 Điều 1 Luật này, sửa đổi Điều 22 Luật số 64/2025/QH15, quy định:
– HĐND cấp xã ban hành nghị quyết về các nội dung được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, chính sách phát triển kinh tế – xã hội địa phương;
– UBND cấp xã ban hành quyết định để thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của cấp trên, thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.
Điều 22 của Luật số 64/2025/QH15 trước đây chỉ quy định thẩm quyền lập quy của cấp huyện và đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, chưa đề cập đến cấp xã.
Bên cạnh đó, khoản 25 Điều 1 Luật 87/2025/QH15 bổ sung khoản 8 Điều 64:
“UBND cấp xã thực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản do HĐND và UBND cấp xã ban hành.”
Luật 64/2025/QH15 chưa quy định nhiệm vụ này cho cấp xã.
- Từ 01/7/2025, văn bản của cấp tỉnh phải đăng tải trên công báo điện tử cấp tỉnh
Khoản 2 Điều 1 Luật số 87/2025/QH15, sửa khoản 3 Điều 9 Luật số 64/2025/QH15, quy định các văn bản do HĐND, UBND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành phải được đăng tải đầy đủ trên công báo điện tử cấp tỉnh.
“…của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh… phải được đăng tải trên công báo điện tử cấp tỉnh.”
Trước 01/7/2025: Theo khoản 3 Điều 9 của Luật số 64/2025/QH15 chỉ yêu cầu đăng tải văn bản của UBND và HĐND, chưa bao gồm văn bản của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
- HĐND, UBND cấp xã được quy định 1 số chính sách phát triển kinh tế – xã hội
Từ ngày 01/7/2025, Luật số 87/2025/QH15 đã lần đầu tiên quy định rõ ràng thẩm quyền của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc ban hành chính sách phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương.
Cụ thể, tại khoản 4 Điều 1 Luật số 87/2025/QH15, sửa đổi toàn diện Điều 22 Luật số 64/2025/QH15, quy định:
- Hội đồng nhân dân cấp xã được ban hành nghị quyết để quy định chính sách phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương, các biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên trong phạm vi địa bàn xã;
- Ủy ban nhân dân cấp xã được ban hành quyết định để tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý nhà nước và triển khai nghị quyết của HĐND cùng cấp.
Tại Điều 22 Luật số 64/2025/QH15 trước khi sửa đổi, chỉ quy định thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của:
- Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
- Cấp huyện;
- Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (nếu có).
Chưa quy định nào về quyền lập quy hoặc ban hành chính sách của cấp xã.
- Ủy ban TVQH có quyền giải thích nghị quyết, pháp lệnh theo đề nghị từ nhiều chủ thể
Kể từ ngày 01/7/2025, Luật số 87/2025/QH15 đã mở rộng phạm vi các chủ thể được quyền đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh, nhằm tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật và vai trò giám sát của các cơ quan.
Cụ thể, tại khoản 23 Điều 1 Luật số 87/2025/QH15, sửa đổi khoản 3 Điều 60 Luật số 64/2025/QH15, quy định:
Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh theo đề nghị của:
- Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội;
- Chính phủ;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội;
- Đại biểu Quốc hội.
So với trước đây, 03 chủ thể mới được bổ sung bao gồm:
- Kiểm toán nhà nước;
- Cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội;
- Đại biểu Quốc hội.
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh được ban hành văn bản chỉ đạo, điều hành riêng
Kể từ ngày 01/7/2025, Luật số 87/2025/QH15 đã bổ sung quy định rõ ràng về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Theo khoản 3 Điều 1 Luật số 87/2025/QH15, sửa đổi Điều 21 Luật số 64/2025/QH15, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền ban hành quyết định để quy định các nội dung sau:
- Biện pháp chỉ đạo, điều hành hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
- Phối hợp hoạt động giữa các cơ quan chuyên môn, cơ quan, tổ chức khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
- Phân cấp và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Quy định này đã chính thức xác lập chủ thể ban hành độc lập là Chủ tịch UBND cấp tỉnh – một vị trí lãnh đạo hành chính quan trọng trong bộ máy chính quyền địa phương.
Trước đó, tại Điều 21 Luật số 64/2025/QH15 trước khi được sửa đổi, Luật chỉ quy định:
- Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết;
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định.
Tuy nhiên, không có điều khoản quy định thẩm quyền ban hành văn bản riêng của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
- Mở rộng thời hạn gửi đề xuất nhiệm vụ lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội
Một trong những điểm mới quan trọng tại Luật số 87/2025/QH15 là việc sửa đổi quy định về thời hạn gửi đề xuất nhiệm vụ lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội.
Cụ thể, tại khoản 5 Điều 1 Luật số 87/2025/QH15, sửa đổi khoản 1 Điều 23 Luật số 64/2025/QH15, quy định rõ:
“Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ trì, phối hợp với Chính phủ xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội, hoàn thành trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày kết thúc Kỳ họp đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội, để trình cơ quan có thẩm quyền của Đảng phê duyệt.
Chủ tịch nước, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội và đại biểu Quốc hội gửi đề xuất nhiệm vụ lập pháp đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kết thúc Kỳ họp đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội để xem xét đưa vào Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội.”
Tại khoản 1 Điều 23 Luật số 64/2025/QH15, quy định trước đây chỉ nêu:
“Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ trì, phối hợp với Chính phủ xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội, hoàn thành trước ngày 01 tháng 9 của năm đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội…”
“Đề xuất nhiệm vụ lập pháp gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước ngày 01 tháng 8 của năm đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội…”
Tuy nhiên, nếu Kỳ họp đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội diễn ra trước hoặc sau tháng 6, thì các mốc ngày 01/8 hoặc 01/9 nêu trên sẽ không phù hợp về mặt thời gian thực tế, gây khó khăn trong áp dụng
- 4 tình huống xử lý hiệu lực văn bản khi chia tách, nhập, điều chỉnh địa giới hành chính
Kể từ ngày 01/7/2025, việc xác định hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật trong trường hợp có thay đổi về địa giới hành chính được quy định rõ ràng tại khoản 20 Điều 1 Luật số 87/2025/QH15, sửa đổi khoản 2 Điều 54 Luật số 64/2025/QH15.
Theo đó, các văn bản của HĐND, UBND, Chủ tịch UBND sẽ được xử lý hiệu lực theo 4 tình huống cụ thể:
(1) Trường hợp chia đơn vị hành chính
Nếu một đơn vị hành chính được chia thành nhiều đơn vị hành chính mới cùng cấp, thì:
- Văn bản của HĐND, UBND, Chủ tịch UBND của đơn vị hành chính bị chia tiếp tục có hiệu lực đối với các đơn vị hành chính mới,
- Cho đến khi HĐND, UBND, Chủ tịch UBND của đơn vị mới có quyết định khác.
(2) Trường hợp nhập các đơn vị hành chính
Nếu nhiều đơn vị hành chính được nhập thành một đơn vị hành chính mới cùng cấp, thì:
- Văn bản của các đơn vị hành chính được nhập tiếp tục có hiệu lực trong phạm vi toàn đơn vị hành chính mới,
- Cho đến khi có văn bản mới hoặc quyết định áp dụng hoặc bãi bỏ văn bản cũ.
(3) Trường hợp điều chỉnh một phần địa giới
Nếu một phần địa giới hành chính được điều chỉnh về đơn vị khác, thì văn bản quy phạm pháp luật của đơn vị hành chính được mở rộng địa giới có hiệu lực đối với phần địa giới được điều chỉnh.
(4) Trường hợp khác
Nếu không thuộc các trường hợp nêu trên:
- Văn bản đang có hiệu lực trong phạm vi địa giới cũ vẫn tiếp tục có hiệu lực,
- Trừ khi đã bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ bởi văn bản mới hoặc có quyết định khác.
Ngoài ra, Luật yêu cầu phải quy định rõ phạm vi hiệu lực về không gian của văn bản ngay tại chính văn bản đó.
Tại khoản 2 Điều 54 Luật số 64/2025/QH15, nội dung về hiệu lực văn bản trong trường hợp thay đổi địa giới hành chính được quy định chung chung, chưa phân biệt rõ từng tình huống cụ thể.
- Văn bản cấp xã không được quy định hiệu lực hồi tố
Từ ngày 01/7/2025, Luật số 87/2025/QH15 quy định rõ: văn bản quy phạm pháp luật của cấp xã không được phép quy định hiệu lực hồi tố (tức là có hiệu lực từ thời điểm trước ngày ban hành).
Cụ thể, tại khoản 21 Điều 1 Luật số 87/2025/QH15, sửa đổi khoản 3 Điều 55 Luật số 64/2025/QH15, quy định như sau:
“Văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã không được quy định hiệu lực trở về trước.”
Quy định này áp dụng đối với: Nghị quyết của HĐND cấp xã; Quyết định của UBND cấp xã; Quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Điều này có nghĩa là, các văn bản nói trên chỉ có hiệu lực từ ngày được quy định trong văn bản, không được hồi tố để áp dụng đối với các hành vi đã xảy ra trước đó.
Trước khi được sửa đổi, khoản 3 Điều 55 Luật số 64/2025/QH15 chỉ quy định:
“Văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện không được quy định hiệu lực trở về trước.”
- Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật
Luật năm 2025 chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ phát triển; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; đề cao trách nhiệm của cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm định và cơ quan ban hành văn bản.
Quy trình xây dựng pháp luật được thiết kế theo hướng linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm chặt chẽ, khoa học và minh bạch.
- Tăng cường kiểm soát chất lượng văn bản
Luật quy định chặt chẽ hơn về:
- đánh giá tác động chính sách;
- đánh giá thủ tục hành chính;
- đánh giá tác động kinh tế – xã hội;
- đánh giá tác động đến quyền con người, quyền công dân;
- rà soát tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Việc chuẩn bị chính sách phải được thực hiện ngay từ đầu, tránh tình trạng luật vừa ban hành đã phải sửa đổi.
- Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền
Luật tạo cơ sở pháp lý để:
- Chính phủ;
- Bộ trưởng;
- Hội đồng nhân dân;
- Ủy ban nhân dân
chủ động hơn trong việc ban hành văn bản thuộc thẩm quyền, đồng thời quy định rõ trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực.
- Ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số
Lần đầu tiên nhiều quy trình xây dựng văn bản được thực hiện trên môi trường điện tử.
Bao gồm:
- lấy ý kiến trực tuyến;
- hồ sơ điện tử;
- quản lý tiến độ xây dựng luật;
- công khai toàn bộ quá trình xây dựng văn bản.
Điều này góp phần nâng cao tính minh bạch và tạo điều kiện để người dân tham gia góp ý chính sách.
- Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu
Người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo phải chịu trách nhiệm về:
- tiến độ;
- chất lượng;
- tính hợp hiến;
- tính hợp pháp;
- tính thống nhất của dự thảo.
Đây là điểm mới quan trọng nhằm hạn chế tình trạng nợ văn bản hướng dẫn hoặc ban hành văn bản kém chất lượng.
II. LUẬT TÁC ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN NGƯỜI DÂN VÀ DOANH NGHIỆP
Đối với người dân, Luật giúp tăng cơ hội tham gia góp ý vào các dự thảo luật, nghị định và thông tư; đồng thời góp phần xây dựng hệ thống pháp luật minh bạch, ổn định và dễ tiếp cận hơn.
Đối với doanh nghiệp, việc đánh giá tác động chính sách kỹ lưỡng trước khi ban hành sẽ hạn chế những quy định bất hợp lý, giảm chi phí tuân thủ, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định và thuận lợi.
Đối với cơ quan nhà nước, Luật đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng soạn thảo, thẩm định và ban hành văn bản, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Những điều cần biết về Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025
- Mọi chính sách quan trọng phải được đánh giá tác động trước khi xây dựng luật.
- Người dân và doanh nghiệp có nhiều cơ hội tham gia góp ý trực tuyến vào dự thảo văn bản.
- Trách nhiệm của cơ quan soạn thảo và người đứng đầu được quy định rõ ràng hơn.
- Quy trình xây dựng pháp luật được số hóa, công khai và minh bạch.
- Hệ thống pháp luật được rà soát thường xuyên nhằm hạn chế chồng chéo, mâu thuẫn.
III. GÓC NHÌN VÀ NHẬN ĐỊNH CỦA THS. NGUYỄN HỮU LONG
Theo ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 không chỉ sửa đổi quy trình kỹ thuật lập pháp mà còn thể hiện sự thay đổi trong tư duy xây dựng thể chế của Nhà nước.
Ông cho rằng, một hệ thống pháp luật muốn thực sự đi vào cuộc sống phải bảo đảm ba yếu tố cốt lõi: đúng thẩm quyền, đúng nhu cầu thực tiễn và khả thi trong tổ chức thực hiện. Luật năm 2025 đã tăng cường yêu cầu đánh giá tác động chính sách, mở rộng sự tham gia của người dân và doanh nghiệp, đồng thời ứng dụng công nghệ số vào toàn bộ quy trình xây dựng văn bản. Đây là những bước tiến quan trọng để nâng cao chất lượng lập pháp.
Bên cạnh đó, việc quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan soạn thảo và cơ chế kiểm soát chất lượng văn bản sẽ góp phần hạn chế tình trạng ban hành văn bản thiếu thống nhất, phải sửa đổi nhiều lần hoặc chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, Luật số 64/2025/QH15 được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, ổn định và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Kết luận
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 là dấu mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế của Việt Nam. Với nhiều đổi mới về quy trình, trách nhiệm và ứng dụng công nghệ, Luật không chỉ nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật mà còn góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và phục vụ người dân, doanh nghiệp hiệu quả hơn.
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

