LUẬT THI ĐUA, KHEN THƯỞNG 2022 – KHƠI DẬY KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN, TÔN VINH ĐÚNG NGƯỜI, ĐÚNG THÀNH TÍCH VÀ LAN TỎA NHỮNG GIÁ TRỊ TỐT ĐẸP TRONG CỘNG ĐỒNG

12 / 100 Điểm SEO

LUẬT THI ĐUA, KHEN THƯỞNG 2022 – KHƠI DẬY KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN, TÔN VINH ĐÚNG NGƯỜI, ĐÚNG THÀNH TÍCH VÀ LAN TỎA NHỮNG GIÁ TRỊ TỐT ĐẸP TRONG CỘNG ĐỒNG

Góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị

Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2022/QH15 là văn bản pháp luật quan trọng điều chỉnh toàn diện về đối tượng, phạm vi, nguyên tắc, hình thức, tiêu chuẩn, thẩm quyền, trình tự và thủ tục thi đua, khen thưởng. Luật áp dụng không chỉ đối với cá nhân, tập thể mà còn đối với hộ gia đình; đồng thời bao gồm người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cá nhân, tập thể người nước ngoài.

Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2024, thay thế Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003 và các luật sửa đổi, bổ sung trước đó. Các danh hiệu, hình thức khen thưởng đã được tặng hoặc truy tặng trước thời điểm Luật mới có hiệu lực vẫn tiếp tục được Nhà nước công nhận, bảo hộ và bảo đảm các chế độ, quyền lợi kèm theo.

Từ góc nhìn tích hợp Pháp lý – Tâm lý – Giáo dục, ThS. Nguyễn Hữu Long cho rằng giá trị quan trọng của Luật không chỉ nằm ở việc xác lập những tiêu chuẩn để “được khen thưởng”, mà sâu xa hơn là xây dựng một cơ chế xã hội biết phát hiện, ghi nhận, tôn vinh và nhân rộng những con người, gia đình, tập thể có đóng góp thực chất.

I. THI ĐUA, KHEN THƯỞNG KHÔNG PHẢI LÀ “CHUYỆN DANH HIỆU” MÀ LÀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

1. Thi đua phải bắt đầu từ sự tự nguyện và khát vọng vươn lên

Một trong những điểm cần được cộng đồng hiểu đúng là pháp luật không nhìn nhận thi đua đơn thuần như cuộc cạnh tranh về thành tích.

Theo Điều 3 Luật Thi đua, khen thưởng, thi đua là hoạt động có tổ chức, do người có thẩm quyền phát động, với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể, hộ gia đình. Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh và khuyến khích đối với những chủ thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đặc biệt, Điều 4 xác định mục tiêu của thi đua là động viên mọi cá nhân, tập thể, hộ gia đình phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, đổi mới, năng động và sáng tạo để vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ; còn khen thưởng nhằm ghi nhận công lao, thành tích và tiếp tục tạo động lực thi đua.

Từ góc nhìn tâm lý – giáo dục, đây là điểm rất đáng chú ý.

Thi đua đúng nghĩa không tạo ra áp lực phải “hơn người khác”, mà tạo động lực để mỗi người hôm nay tốt hơn chính mình ngày hôm qua.

Nếu tổ chức phong trào thi đua chỉ nhằm chạy theo số lượng danh hiệu, thành tích báo cáo hoặc hình thức bên ngoài thì ý nghĩa giáo dục của thi đua sẽ bị suy giảm. Ngược lại, khi một người lao động bình thường, một giáo viên tận tụy, một nông dân sáng tạo, một cán bộ trách nhiệm hay một gia đình có đóng góp cho cộng đồng được ghi nhận xứng đáng, sự ghi nhận đó có thể tạo hiệu ứng tâm lý tích cực rất lớn.

2. Công khai – minh bạch – công bằng phải trở thành “linh hồn” của khen thưởng

Điều 5 đặt ra nguyên tắc rất rõ ràng: thi đua phải tự nguyện, tự giác, công khai, minh bạch; đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển.

Đối với khen thưởng, Luật yêu cầu phải:

chính xác – công khai – minh bạch – công bằng – kịp thời.

Đồng thời, hình thức khen thưởng phải tương xứng với đối tượng, công trạng và thành tích; không khen thưởng nhiều lần, nhiều hình thức cho cùng một thành tích; thành tích đến đâu thì khen thưởng đến đó. Luật cũng yêu cầu bảo đảm bình đẳng giới.

Đây chính là “hàng rào pháp lý” chống lại tư tưởng khen thưởng theo cảm tính, quan hệ, vị trí hay hình thức.

Theo ThS. Nguyễn Hữu Long, ở góc độ tâm lý tổ chức, một cơ chế khen thưởng thiếu công bằng có thể gây ra hậu quả ngược: người làm tốt mất động lực, tập thể xuất hiện tâm lý so bì và người lao động không còn tin tưởng vào phong trào thi đua.

Vì vậy:

Khen thưởng không đúng người đôi khi còn nguy hiểm hơn không khen thưởng, bởi nó làm suy giảm niềm tin vào sự công bằng.

Tinh thần của Luật là đưa khen thưởng trở về đúng bản chất: thành tích thực chất phải được ghi nhận bằng sự ghi nhận thực chất.

3. Một chuyển biến quan trọng: hướng sự ghi nhận về những người trực tiếp lao động

Điểm rất đáng quan tâm tại điểm d khoản 2 Điều 5 là yêu cầu chú trọng khen thưởng đối với cá nhân, tập thể, hộ gia đình trực tiếp lao động, sản xuất, kinh doanh, cũng như những người công tác ở biên giới, trên biển, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

Tinh thần này mang ý nghĩa xã hội sâu sắc.

Danh hiệu không nên chỉ tập trung vào những người có chức vụ hay những chủ thể dễ được nhìn thấy. Trong đời sống còn có hàng triệu người lao động bình thường đang âm thầm đóng góp: công nhân, nông dân, giáo viên, nhân viên, người lao động tại doanh nghiệp, người làm việc ở vùng khó khăn…

Một chính sách khen thưởng nhân văn phải có khả năng nhìn thấy những đóng góp thầm lặng ấy.

II. NHỮNG QUY ĐỊNH QUAN TRỌNG NGƯỜI DÂN, CƠ QUAN VÀ ĐƠN VỊ CẦN BIẾT

1. Hệ thống danh hiệu thi đua được quy định rõ ràng

Luật phân chia danh hiệu thi đua đối với cá nhân, tập thể và hộ gia đình.

Đối với cá nhân, Điều 19 quy định các danh hiệu gồm:

  • “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”;
  • Chiến sĩ thi đua Bộ, ban, ngành, tỉnh;
  • “Chiến sĩ thi đua cơ sở”;
  • “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”.

Đối với tập thể có các danh hiệu như “Cờ thi đua của Chính phủ”, cờ thi đua của Bộ, ban, ngành, tỉnh, “Tập thể lao động xuất sắc”, “Đơn vị quyết thắng”, “Tập thể lao động tiên tiến”, “Đơn vị tiên tiến”, xã, phường, thị trấn tiêu biểu, thôn, tổ dân phố văn hóa; đối với hộ gia đình có danh hiệu “Gia đình văn hóa”.

Điều quan trọng là mỗi danh hiệu đều gắn với tiêu chuẩn pháp lý cụ thể, chứ không phải sự ghi nhận tùy nghi.

Chẳng hạn, đối với “Chiến sĩ thi đua cơ sở”, Điều 23 yêu cầu cá nhân phải đạt tiêu chuẩn “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến” và đồng thời hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hoặc có sáng kiến được cơ sở công nhận, có đề tài/công trình khoa học được nghiệm thu hoặc có sự mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu được đơn vị công nhận.

Đối với danh hiệu “Lao động tiên tiến”, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động phải hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên và có tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết, tương trợ, tích cực tham gia phong trào thi đua.

Đáng chú ý, Luật còn quy định tiêu chuẩn dành cho công nhân, nông dân và người lao động khác, trong đó coi trọng hiệu quả lao động, sự tham gia hoạt động xã hội, việc chấp hành pháp luật, đạo đức, lối sống và tinh thần đoàn kết, giúp đỡ cộng đồng.

2. “Gia đình văn hóa” – danh hiệu gần gũi nhất với cộng đồng

Điều 31 quy định danh hiệu “Gia đình văn hóa” được tặng hằng năm cho hộ gia đình đáp ứng các tiêu chuẩn về chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật; tích cực tham gia các phong trào tại địa phương; xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh và thường xuyên đoàn kết, tương trợ cộng đồng.

Như vậy, “Gia đình văn hóa” không đơn giản là một tấm giấy chứng nhận.

Phía sau danh hiệu ấy là những giá trị:

thượng tôn pháp luật – trách nhiệm gia đình – trách nhiệm cộng đồng – đoàn kết – tiến bộ – hạnh phúc.

Đây cũng là điểm giao thoa rất rõ giữa pháp luật và giáo dục gia đình.

3. Khen thưởng không chỉ có Huân chương hay Bằng khen

Luật quy định hệ thống hình thức khen thưởng gồm Huân chương; Huy chương; danh hiệu vinh dự nhà nước; “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước”; Kỷ niệm chương; Bằng khen và Giấy khen. Việc xét khen thưởng phải dựa trên thành tích đạt được, tiêu chuẩn khen thưởng cũng như điều kiện, hoàn cảnh cụ thể khi lập thành tích.

Bên cạnh đó, Luật phân biệt nhiều loại hình khen thưởng, gồm khen thưởng công trạng, khen thưởng đột xuất, khen thưởng phong trào thi đua, khen thưởng quá trình cống hiến, khen thưởng theo niên hạn và khen thưởng đối ngoại.

Cách tiếp cận này giúp việc ghi nhận thành tích linh hoạt hơn.

Một hành động dũng cảm đột xuất không nhất thiết phải chờ đến cuối năm. Một người có quá trình cống hiến lâu dài cũng cần được đánh giá khác với một thành tích xuất sắc phát sinh trong một thời điểm cụ thể.

Khen đúng lúc chính là một hình thức giáo dục tích cực.

4. Trách nhiệm của người đứng đầu được đặt ra rõ ràng

Một quy định có ý nghĩa quản trị đặc biệt nằm tại Điều 13.

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả công tác thi đua, khen thưởng; có trách nhiệm phát hiện cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích, nhân rộng điển hình tiên tiến, đánh giá thành tích và chịu trách nhiệm đối với quyết định hoặc đề nghị khen thưởng.

Đồng thời, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa quản lý công tác thi đua, khen thưởng.

Cơ quan báo chí cũng được giao trách nhiệm tuyên truyền, phát hiện người tốt, việc tốt, phổ biến các điển hình tiên tiến và phản ánh, đấu tranh với hành vi vi phạm trong thi đua, khen thưởng.

Đây là một thay đổi quan trọng về tư duy quản trị:

Không thể để người có thành tích phải tự “đi xin” được khen thưởng. Trách nhiệm phát hiện người xứng đáng trước hết thuộc về tổ chức và người đứng đầu.

III. CHỐNG “BỆNH THÀNH TÍCH” – KHI DANH HIỆU PHẢI ĐƯỢC BẢO VỆ BẰNG LIÊM CHÍNH

Một trong những nội dung đặc biệt cần phổ biến rộng rãi chính là Điều 15 – các hành vi bị nghiêm cấm.

Luật nghiêm cấm việc lợi dụng thi đua, khen thưởng để vụ lợi; cản trở, nhũng nhiễu, tiêu cực; kê khai gian dối, làm giả hồ sơ hoặc xác nhận, đề nghị sai; lạm dụng chức vụ, quyền hạn để đề nghị hoặc quyết định khen thưởng trái pháp luật; sử dụng hiện vật khen thưởng trái thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội và sử dụng quỹ thi đua, khen thưởng trái pháp luật.

Đặc biệt, hậu quả pháp lý không dừng lại ở việc “không được khen”.

Theo Điều 93, người vi phạm tùy tính chất, mức độ có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Quyết định khen thưởng còn có thể bị hủy bỏ, hiện vật và tiền thưởng bị thu hồi nếu có gian dối trong kê khai thành tích, cung cấp thông tin sai sự thật, làm giả hồ sơ hoặc việc thẩm định, xét duyệt, đề nghị khen thưởng trái pháp luật.

Đây chính là cơ chế pháp lý để bảo vệ giá trị đạo đức của danh hiệu.

Theo ThS. Nguyễn Hữu Long, khi một danh hiệu được trao không đúng người, thiệt hại không chỉ là một khoản tiền thưởng. Thiệt hại lớn hơn nằm ở niềm tin của tập thể.

Một xã hội muốn khuyến khích điều tốt trước hết phải bảo vệ sự công bằng trong việc ghi nhận điều tốt.

IV. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ CHO CỘNG ĐỒNG

Từ tinh thần của Luật Thi đua, khen thưởng 2022, ThS. Nguyễn Hữu Long cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy “thi đua để lấy danh hiệu” sang “thi đua để tạo giá trị”.

Với cơ quan, trường học, doanh nghiệp và các tổ chức, phong trào thi đua cần đặt mục tiêu cụ thể, có tiêu chí đo lường, công khai cách đánh giá; chú trọng phát hiện những cá nhân trực tiếp làm việc, sáng tạo và cống hiến. Điều 17 của Luật cũng xác định tổ chức phong trào phải bao gồm việc xác định mục tiêu, phạm vi, đối tượng, tiêu chí, thời gian và biện pháp; triển khai; kiểm tra, giám sát; phát hiện và nhân rộng điển hình; sơ kết, tổng kết và khen thưởng.

Với mỗi cá nhân, cần hiểu rằng danh hiệu là kết quả của quá trình cống hiến, không phải mục tiêu duy nhất của cống hiến. Giá trị lâu dài nằm ở năng lực, trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp và những đóng góp thực sự cho tập thể, xã hội.

Người đã được khen thưởng cũng không chỉ có quyền mà còn có nghĩa vụ. Điều 87 yêu cầu cá nhân, tập thể, hộ gia đình nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về thi đua, khen thưởng, tiếp tục phát huy thành tích, tuyên truyền và phổ biến kinh nghiệm.

Thông điệp nhân văn

Từ góc nhìn Pháp lý – Tâm lý – Giáo dục, có thể cô đọng tinh thần của Luật bằng một thông điệp:

“Thi đua không phải để tạo ra khoảng cách giữa người được khen và người chưa được khen, mà để đánh thức khả năng tốt đẹp trong mỗi con người. Khen thưởng không phải để làm đẹp hồ sơ thành tích, mà để xã hội biết trân trọng người tử tế, người lao động, người sáng tạo và người dám cống hiến. Khi mỗi thành tích thật được ghi nhận công bằng, mỗi việc tốt được lan tỏa kịp thời và mỗi sự cống hiến thầm lặng được nhìn thấy, thi đua – khen thưởng sẽ thực sự trở thành sức mạnh giáo dục con người và xây dựng một cộng đồng nhân văn, trách nhiệm, tiến bộ.”

THÔNG TIN LIÊN HỆ: 

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

Để lại một bình luận