BÀI 3 NGÀY 6-8-2026: LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN SỐ 104/2016/QH13: LẦN ĐẦU TIÊN CÔNG DÂN CÓ “CHÌA KHÓA PHÁP LÝ” ĐỂ TIẾP CẬN THÔNG TIN NHÀ NƯỚC

12 / 100 Điểm SEO

LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN SỐ 104/2016/QH13: LẦN ĐẦU TIÊN CÔNG DÂN CÓ “CHÌA KHÓA PHÁP LÝ” ĐỂ TIẾP CẬN THÔNG TIN NHÀ NƯỚC

Ngày 06/4/2016, tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tiếp cận thông tin số 104/2016/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018 (theo Điều 37 Luật số 104/2016/QH13). Đây là đạo luật đầu tiên của nước ta quy định riêng, toàn diện về quyền tiếp cận thông tin – cụ thể hóa quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp. Trước khi Luật này ra đời, quyền tiếp cận thông tin của người dân chỉ được đề cập rải rác, chưa thống nhất trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành, khiến việc thực hiện trên thực tế còn nhiều lúng túng, tùy tiện.

Dưới góc nhìn tích hợp Pháp luật – Tâm lý – Quản trị của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị, bài viết phổ biến pháp luật này sẽ giải mã những điểm mới, lần đầu tiên được thể chế hóa của Luật số 104/2016/QH13, đồng thời đưa ra những lưu ý thiết thực cho công dân và cơ quan nhà nước.

  1. BỐI CẢNH THỰC TẾ – VÌ SAO CẦN MỘT ĐẠO LUẬT RIÊNG VỀ TIẾP CẬN THÔNG TIN?

Trước năm 2018, không ít người dân từng gặp khó khăn khi muốn tìm hiểu thông tin liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình:

  • Câu chuyện giả định về quy hoạch đất đai:  Ông S muốn xin bản sao quy hoạch sử dụng đất tại khu vực gia đình đang sinh sống để chuẩn bị hồ sơ xin cấp phép xây dựng, nhưng không biết phải liên hệ cơ quan nào, theo trình tự nào, và cơ quan tiếp nhận có quyền từ chối hay không.
  • Câu chuyện giả định: Nhà báo C khi tác nghiệp về một dự án đầu tư công tại địa phương đã nhiều lần gửi văn bản đề nghị cung cấp thông tin nhưng không nhận được phản hồi, cũng không rõ mình có quyền khiếu nại về việc chậm trễ này hay không.
  • Câu chuyện giả định về một sinh viên nghiên cứu: Anh B muốn tiếp cận số liệu thống kê về ngân sách giáo dục của tỉnh để phục vụ khóa luận, nhưng không có căn cứ pháp lý rõ ràng nào quy định cơ quan nhà nước phải công khai loại thông tin này, cũng như không biết mình có phải trả phí hay không.

Chính từ những “khoảng trống” đó, Luật số 104/2016/QH13 ra đời với 5 chương, 37 điều, lần đầu tiên xây dựng một khung pháp lý thống nhất, rõ ràng, buộc cơ quan nhà nước phải chủ động và có trách nhiệm hơn trong việc công khai, cung cấp thông tin cho công dân.

  1. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – NHỮNG ĐIỂM MỚI CỐT LÕI, LẦN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC LUẬT HÓA (SO VỚI TRƯỚC ĐÂY)

Trước khi Luật số 104/2016/QH13 ra đời, hệ thống pháp luật nước ta chưa có một đạo luật độc lập, đồng bộ về quyền tiếp cận thông tin mà chỉ có các quy định rải rác, chung chung. Dưới đây là các điểm mới cốt lõi lần đầu tiên được luật hóa:

  1. Lần đầu tiên có một đạo luật riêng, thể chế hóa đầy đủ quyền hiến định
  • Theo Điều 1 Luật số 104/2016/QH13 xác định rõ phạm vi điều chỉnh: “Luật này quy định về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân” (theo Điều 1 Luật số 104/2016/QH13).
  • Điểm mới so với trước: Đây là lần đầu tiên quyền tiếp cận thông tin – vốn chỉ được nêu chung chung ở cấp độ hiến định – được quy định thành một đạo luật độc lập, đầy đủ trình tự, thủ tục để công dân có thể thực hiện trên thực tế.
  1. Lần đầu tiên định nghĩa rõ ràng các khái niệm cốt lõi
  • Theo Điều 2 Luật số 104/2016/QH13 lần đầu tiên đưa ra định nghĩa pháp lý chính thức cho các khái niệm nền tảng: “thông tin” (khoản 1 Điều 2 Luật số 104/2016/QH13), “thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra” (khoản 2 Điều 2 Luật số 104/2016/QH13), “tiếp cận thông tin” – được xác định là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin (khoản 3 Điều 2 Luật số 104/2016/QH13), và “cung cấp thông tin” – bao gồm cả việc công khai thông tin và cung cấp thông tin theo yêu cầu (khoản 4 Điều 2 Luật số 104/2016/QH13).
  • Điểm mới so với trước: Việc định nghĩa rõ ràng này là cơ sở để tránh cách hiểu, áp dụng tùy tiện như trước đây.
  1. Sáu nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt chú trọng nhóm yếu thế
  • Theo Điều 3 Luật số 104/2016/QH13 lần đầu tiên quy định thành hệ thống 6 nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin.
  • Trong đó đáng chú ý là khoản 4 Điều 3 Luật số 104/2016/QH13 quy định “việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định” – nhằm ngăn chặn tình trạng cơ quan cấp dưới tự đặt ra lý do từ chối cung cấp thông tin.
  • Khoản 6 Điều 3 Luật số 104/2016/QH13 lần đầu tiên đặt ra yêu cầu “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin”.
  1. Mở rộng chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin
  • Theo Điều 4 Luật số 104/2016/QH13 lần đầu tiên quy định cụ thể cơ chế thực hiện quyền cho các nhóm đặc thù: người mất năng lực hành vi dân sự yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người đại diện theo pháp luật (khoản 2 Điều 4 Luật số 104/2016/QH13); người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện thông qua người giám hộ (khoản 2 Điều 4 Luật số 104/2016/QH13); và người dưới 18 tuổi yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người đại diện theo pháp luật (khoản 3 Điều 4 Luật số 104/2016/QH13).
  • Điểm mới so với trước: Đây là những quy định hoàn toàn mới, chưa từng được đề cập ở các văn bản pháp luật cũ trước đó.
  1. Lần đầu tiên phân loại rõ ba nhóm thông tin: được tiếp cận, không được tiếp cận, tiếp cận có điều kiện
  • Đây là điểm mới có tính đột phá về kỹ thuật lập pháp. Theo Điều 5 Luật số 104/2016/QH13 quy định nguyên tắc chung công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan nhà nước.
  • Theo Điều 6 Luật số 104/2016/QH13 lần đầu tiên liệt kê cụ thể, khoanh vùng rõ những thông tin công dân không được tiếp cận (thông tin thuộc bí mật nhà nước; thông tin nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia…).
  • Theo Điều 7 Luật số 104/2016/QH13 quy định về thông tin được tiếp cận có điều kiện (bí mật kinh doanh, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình – chỉ được tiếp cận khi có sự đồng ý của chủ thể liên quan, theo khoản 1 và khoản 2 Điều 7 Luật số 104/2016/QH13).
  • Điểm mới so với trước: Trước đây, ranh giới giữa các loại thông tin này chưa từng được pháp luật quy định rành mạch như vậy.
  1. Lần đầu tiên có Danh mục thông tin bắt buộc phải chủ động công khai
  • Theo Điều 17 Luật số 104/2016/QH13 lần đầu tiên liệt kê chi tiết tới 16 nhóm thông tin mà cơ quan nhà nước phải công khai rộng rãi, không chờ người dân yêu cầu, gồm: văn bản quy phạm pháp luật, thủ tục hành chính (điểm a khoản 1 Điều 17 Luật số 104/2016/QH13); dự toán, quyết toán ngân sách nhà nước (điểm đ khoản 1, điều 17 Luật số 104/2016/QH13); thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, phương án bồi thường, tái định cư (điểm g khoản 1 điều 17 Luật số 104/2016/QH13); thông tin về đấu thầu, đầu tư công (điểm g khoản 1 điều 17 Luật số 104/2016/QH13); thông tin về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có tác động tiêu cực đến sức khỏe, môi trường (điểm i khoản 1 điều 17 Luật số 104/2016/QH13)…
  • Kèm theo đó, theo Điều 18 Luật số 104/2016/QH13 quy định cụ thể 5 hình thức công khai (khoản 1 Điều 18 Luật số 104/2016/QH13) và lần đầu tiên ấn định thời hạn: nếu pháp luật chuyên ngành chưa quy định thì “chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày tạo ra thông tin, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải công khai thông tin” (khoản 4 Điều 18 Luật số 104/2016/QH13).
  1. Lần đầu tiên quy định trình tự, thời hạn cụ thể để công dân yêu cầu cung cấp thông tin
  • Theo Chương III Luật số 104/2016/QH13 (từ Điều 23 đến Điều 32) là điểm mới mang tính “xương sống” của Luật, lần đầu tiên trao cho công dân một quy trình rõ ràng để chủ động yêu cầu cung cấp thông tin bằng Phiếu yêu cầu (theo Điều 24 Luật số 104/2016/QH13).
  • Với thời hạn giải quyết cụ thể: đối với thông tin đơn giản, có sẵn – chậm nhất 03 ngày làm việc nếu yêu cầu qua mạng điện tử (khoản 3 Điều 30 Luật số 104/2016/QH13); đối với thông tin phức tạp – chậm nhất 15 ngày làm việc, có thể gia hạn nhưng tối đa không quá 15 ngày (khoản 4 Điều 30 Luật số 104/2016/QH13).
  • Theo Điều 28 Luật số 104/2016/QH13 cũng lần đầu tiên quy định rõ 6 trường hợp cơ quan nhà nước được từ chối cung cấp thông tin, kèm yêu cầu bắt buộc phải nêu rõ lý do bằng văn bản (khoản 2 Điều 28 Luật số 104/2016/QH13) – tránh tình trạng từ chối tùy tiện, không giải trình như trước đây.
  1. Nguyên tắc miễn phí tiếp cận thông tin
  • Theo khoản 1 Điều 12 Luật số 104/2016/QH13 lần đầu tiên khẳng định nguyên tắc “công dân được cung cấp thông tin không phải trả phí, lệ phí, trừ trường hợp luật khác có quy định”.
  • Công dân chỉ phải trả chi phí thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin (khoản 2 Điều 12 Luật số 104/2016/QH13).
  • Điểm mới so với trước: Đây là quy định quan trọng nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin không bị cản trở bởi rào cản tài chính.
  1. Cơ chế giám sát, khiếu nại và xử lý vi phạm đồng bộ
  • Lần đầu tiên, việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin được đặt dưới sự giám sát nhiều tầng: Quốc hội giám sát tối cao (khoản 1 Điều 13 Luật số 104/2016/QH13), Hội đồng nhân dân giám sát ở địa phương (khoản 2 Điều 13 Luật số 104/2016/QH13), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát xã hội (khoản 3 Điều 13 Luật số 104/2016/QH13).
  • Công dân có quyền khiếu nại, khởi kiện, tố cáo theo Điều 14 Luật số 104/2016/QH13.
  • Theo Điều 15 Luật số 104/2016/QH13 quy định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan nhà nước nếu người cung cấp thông tin vi phạm gây thiệt hại (khoản 2 Điều 15 Luật số 104/2016/QH13).

III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ: “CHÌA KHÓA NHÂN VĂN”

Dưới góc độ tích hợp của chuyên gia, Luật số 104/2016/QH13 không chỉ mang giá trị kỹ thuật pháp lý mà còn có ý nghĩa sâu sắc về mặt tâm lý và quản trị:

  • Về mặt tâm lý xã hội: Trước đây, do thiếu hành lang pháp lý rõ ràng, người dân thường mang tâm lý e dè khi muốn hỏi thông tin từ cơ quan nhà nước, sợ bị coi là “gây khó dễ” hoặc “vượt thẩm quyền”. Việc Luật quy định rõ quyền được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời (điểm a khoản 1 Điều 8 Luật số 104/2016/QH13) cùng quyền khiếu nại, khởi kiện, tố cáo (điểm b khoản 1 Điều 8 Luật số 104/2016/QH13) giúp người dân chuyển từ tâm thế thụ động sang chủ động, tự tin thực hiện quyền của mình.
  • Về mặt quản trị công: Luật buộc mỗi cơ quan nhà nước phải ban hành quy chế nội bộ về tổ chức cung cấp thông tin, xác định rõ đầu mối cung cấp thông tin (điểm h khoản 1 Điều 34 Luật số 104/2016/QH13) – đây là bước chuyển từ tư duy “thông tin thuộc về cơ quan” sang tư duy “thông tin thuộc về công dân, cơ quan có trách nhiệm minh bạch”.
  • Về mặt giáo dục tinh thần trách nhiệm: Khoản 4 Điều 11 Luật số 104/2016/QH13 nghiêm cấm hành vi “cản trở, đe dọa, trù dập người yêu cầu, người cung cấp thông tin”. Quy định này không chỉ bảo vệ người dân mà còn giáo dục ý thức về văn hóa hành chính công khai, minh bạch cho chính đội ngũ cán bộ, công chức.
  1. LỜI KHUYÊN VÀ GIẢI PHÁP TỪ CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG

Để công dân và cơ quan nhà nước thực hiện tốt Luật số 104/2016/QH13, ThS. Nguyễn Hữu Long đưa ra một số khuyến nghị sau:

  • Đối với công dân: Khi cần thông tin, trước tiên nên kiểm tra xem thông tin đó có thuộc Danh mục thông tin phải công khai theo Điều 17 Luật số 104/2016/QH13 hay không (thường được đăng trên cổng/trang thông tin điện tử của cơ quan theo Điều 19 Luật số 104/2016/QH13); nếu chưa được công khai, hãy lập Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin theo đúng nội dung quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật số 104/2016/QH13 để được xử lý đúng thời hạn.
  • Đối với cơ quan nhà nước: Cần chủ động rà soát, ban hành Danh mục thông tin phải công khai và quy chế nội bộ về cung cấp thông tin theo điểm b và điểm h khoản 1 Điều 34 Luật số 104/2016/QH13, tránh tình trạng bị động, chậm trễ dẫn đến khiếu nại.
  • Đối với nhóm yếu thế (người khuyết tật, người dân vùng biên giới, hải đảo, miền núi): Cần chủ động đề nghị cơ quan nhà nước áp dụng hình thức công khai thông tin phù hợp với khả năng tiếp cận của mình theo khoản 3 Điều 18 Luật số 104/2016/QH13.

Thông điệp nhân văn: “Một xã hội minh bạch bắt đầu từ việc mỗi người dân biết và dám thực hiện quyền được biết của mình. Luật Tiếp cận thông tin không chỉ trao cho công dân một công cụ pháp lý, mà còn đặt nền móng cho một nền quản trị công khai, trách nhiệm và gần dân hơn.”

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

 

 

Để lại một bình luận