LUẬT KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO NĂM 2025: TẠO ĐỘT PHÁ THỂ CHẾ – KHƠI DẬY KHÁT VỌNG SÁNG TẠO – KIẾN TẠO ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

7 / 100 Điểm SEO

LUẬT KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO NĂM 2025:

TẠO ĐỘT PHÁ THỂ CHẾ – KHƠI DẬY KHÁT VỌNG SÁNG TẠO – KIẾN TẠO ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã trở thành động lực cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Muốn phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam không chỉ cần nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn cần một hành lang pháp lý đủ linh hoạt để khuyến khích nghiên cứu, chấp nhận đổi mới và thúc đẩy thương mại hóa các thành quả khoa học.

Xuất phát từ yêu cầu đó, Quốc hội đã thông qua Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 (Luật số 93/2025/QH15), đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý nhà nước khi lấy đổi mới sáng tạo làm trung tâm của phát triển, đồng thời tạo cơ chế thông thoáng hơn cho tổ chức, doanh nghiệp và nhà khoa học tham gia nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và phát triển các mô hình kinh doanh mới.

Dưới góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị, Luật không chỉ là văn bản điều chỉnh hoạt động khoa học, công nghệ mà còn thể hiện tư duy đổi mới trong quản trị quốc gia: khuyến khích sáng tạo đi đôi với quản trị rủi ro, bảo vệ người đổi mới nhưng vẫn bảo đảm lợi ích của Nhà nước và cộng đồng.

BỐI CẢNH THỰC TIỄN – KHI ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN

Trong nhiều năm qua, không ít nhà khoa học, doanh nghiệp khởi nghiệp và tổ chức nghiên cứu còn e ngại triển khai các ý tưởng mới vì lo ngại rủi ro pháp lý nếu kết quả nghiên cứu không đạt như kỳ vọng. Bên cạnh đó, cơ chế quản lý còn thiếu linh hoạt, việc chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn chưa thật sự hiệu quả, trong khi chuyển đổi số và công nghệ mới phát triển rất nhanh.

Thực tiễn cũng cho thấy nhiều mô hình kinh doanh, công nghệ và sản phẩm mới xuất hiện trước khi pháp luật kịp điều chỉnh, dẫn đến khoảng trống pháp lý, làm giảm cơ hội đổi mới và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Để khắc phục những hạn chế đó, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 đã xây dựng nhiều cơ chế đột phá như: chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học; thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox); thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý khoa học; khuyến khích phổ biến tri thức và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; tăng cường đầu tư cho đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ chiến lược.

Theo ThS. Nguyễn Hữu Long:

“Một quốc gia muốn phát triển phải biết khuyến khích sáng tạo. Điều quan trọng không phải là không có rủi ro, mà là có cơ chế pháp lý để quản trị rủi ro, bảo vệ những người dám đổi mới vì lợi ích chung. Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 chính là nền tảng để khơi dậy tinh thần sáng tạo, thúc đẩy nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, góp phần đưa Việt Nam phát triển bằng tri thức và đổi mới.”

GÓC NHÌN PHÁP LÝ – NHỮNG ĐIỂM MỚI QUAN TRỌNG CỦA LUẬT KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO NĂM 2025

Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 đã tạo ra nhiều cơ chế đột phá nhằm khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Dưới đây là những nội dung nổi bật mà người dân, doanh nghiệp và các tổ chức cần quan tâm.

  1. Khuyến khích phổ biến tri thức và lan tỏa kết quả nghiên cứu

Lần đầu tiên, Luật quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước hoặc được Nhà nước hỗ trợ phải công bố, phổ biến kết quả nghiên cứu và cập nhật thông tin trên Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, Nhà nước cũng khuyến khích các tổ chức, cá nhân khác chủ động chia sẻ tri thức để cộng đồng cùng khai thác, ứng dụng, trừ các nội dung thuộc bí mật nhà nước hoặc ảnh hưởng đến quyền sở hữu trí tuệ.

Theo ThS. Nguyễn Hữu Long, quy định này góp phần đưa tri thức khoa học đến gần hơn với người dân và doanh nghiệp, tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội.

  1. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động khoa học và công nghệ

Luật xác định chuyển đổi số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nhà nước sẽ đầu tư xây dựng Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc giaHệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để quản lý, lưu trữ, chia sẻ dữ liệu nghiên cứu, kết quả khoa học và hỗ trợ cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp sử dụng ngân sách hoặc hưởng chính sách hỗ trợ có trách nhiệm cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý.

Đây là bước tiến quan trọng nhằm nâng cao tính minh bạch, giảm thủ tục hành chính và tạo môi trường nghiên cứu hiện đại.

  1. Thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox)

Một điểm mới nổi bật của Luật là cho phép thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh mới mà pháp luật chưa có quy định hoặc có quy định khác với thực tiễn. Việc thử nghiệm được giới hạn về phạm vi, thời gian và không gian, đồng thời phải bảo đảm công khai, minh bạch, kiểm soát rủi ro và bảo vệ quyền lợi của người tham gia. Kết quả thử nghiệm sẽ là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xem xét hoàn thiện chính sách hoặc ban hành quy định pháp luật mới.

Theo góc nhìn pháp lý, đây là cơ chế quan trọng giúp Việt Nam chủ động tiếp cận các công nghệ mới, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo.

  1. Bảo vệ người làm khoa học khi dám đổi mới vì lợi ích chung

Luật quy định cơ chế miễn hoặc loại trừ trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia thử nghiệm có kiểm soát nếu đã thực hiện đúng quy định, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung và đã áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng ngừa rủi ro. Tuy nhiên, trường hợp cố ý vi phạm, che giấu rủi ro hoặc không thực hiện đầy đủ trách nhiệm thì vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Đây là bước đột phá trong tư duy lập pháp, tạo niềm tin để các nhà khoa học và doanh nghiệp mạnh dạn nghiên cứu, thử nghiệm các ý tưởng mới mà vẫn bảo đảm trách nhiệm đối với xã hội.

  1. Quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động khoa học, công nghệ

Bên cạnh các chính sách khuyến khích, Luật cũng quy định nghiêm cấm các hành vi như: cản trở hoạt động khoa học và đổi mới sáng tạo; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để can thiệp trái pháp luật; truyền bá thông tin sai sự thật hoặc xuyên tạc kết quả nghiên cứu; xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; cố ý che giấu rủi ro gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, môi trường; tiết lộ hoặc sử dụng trái phép dữ liệu nhạy cảm trong nghiên cứu.

Theo ThS. Nguyễn Hữu Long, những quy định này góp phần xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học minh bạch, trung thực và có trách nhiệm, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng.

Thông điệp pháp lý: Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 không chỉ tạo cơ chế thúc đẩy nghiên cứu và đổi mới sáng tạo mà còn xây dựng một hệ thống quản lý hiện đại, minh bạch, khuyến khích sáng tạo đi đôi với trách nhiệm, góp phần đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC: NUÔI DƯỠNG TINH THẦN ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG TOÀN XÃ HỘI

Dưới góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 không chỉ tạo ra một hành lang pháp lý mới mà còn góp phần thay đổi tư duy phát triển của xã hội. Nếu trước đây nhiều tổ chức, cá nhân còn e ngại nghiên cứu, thử nghiệm vì lo ngại rủi ro hoặc những rào cản về thủ tục, thì nay Luật đã thể hiện quan điểm nhất quán: khuyến khích sáng tạo nhưng phải gắn với trách nhiệm, minh bạch và kiểm soát rủi ro.

Ở góc độ giáo dục, đây là cơ sở để hình thành một thế hệ công dân có tư duy đổi mới, dám nghiên cứu, dám ứng dụng khoa học vào thực tiễn và không ngừng học hỏi để thích ứng với sự phát triển của công nghệ. Đối với học sinh, sinh viên, nhà khoa học và đội ngũ trí thức trẻ, Luật mở ra nhiều cơ hội để hiện thực hóa các ý tưởng sáng tạo, đồng thời khẳng định vai trò của tri thức trong sự phát triển của đất nước.

Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, những cơ chế mới như thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), chuyển đổi số trong quản lý khoa học và chính sách thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu sẽ tạo điều kiện thuận lợi để rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Theo ThS. Nguyễn Hữu Long, để Luật thực sự đi vào cuộc sống, cần có sự đồng hành của cả Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục và mỗi người dân trong việc xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, ứng dụng khoa học vào sản xuất và đời sống, đồng thời chủ động cập nhật kiến thức, nâng cao năng lực số và tinh thần học tập suốt đời.

Thông điệp từ chuyên gia:

“Đổi mới sáng tạo không chỉ là nhiệm vụ của các nhà khoa học mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Khi pháp luật tạo điều kiện, Nhà nước đồng hành, doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới và người dân chủ động tiếp cận tri thức, khoa học và công nghệ sẽ trở thành động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và vươn lên trong kỷ nguyên số.

KHUYẾN NGHỊ VÀ THÔNG ĐIỆP PHÁP LÝ

Để Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 thực sự đi vào cuộc sống, ThS. Nguyễn Hữu Long khuyến nghị:

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý hoạt động khoa học, công nghệ và tạo điều kiện thuận lợi để các cơ chế mới của Luật được triển khai hiệu quả.
  • Đối với doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu: Chủ động đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học và khai thác hiệu quả các chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo của Nhà nước.
  • Đối với đội ngũ nhà khoa học, học sinh, sinh viên: Không ngừng học tập, nâng cao năng lực chuyên môn, chủ động nghiên cứu, sáng tạo và tuân thủ các quy định của pháp luật về đạo đức nghiên cứu, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ.
  • Đối với người dân: Tích cực tiếp cận tri thức khoa học, ứng dụng công nghệ vào lao động, sản xuất và đời sống; đồng thời xây dựng ý thức tôn trọng các thành quả nghiên cứu, góp phần hình thành xã hội học tập và đổi mới sáng tạo.

Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế phát triển khoa học, công nghệ của Việt Nam. Việc triển khai hiệu quả Luật sẽ góp phần khơi dậy tinh thần sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Bài viết được thực hiện dưới góc nhìn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị.

Nếu Quý độc giả cần tư vấn về các quy định pháp luật liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo hoặc các lĩnh vực pháp luật khác, vui lòng liên hệ:

Trung tâm Tư vấn Pháp luật
🌐 Website: tuvanphapluattamlygiaoduc.vn
☎️ Hotline: 0898.627.762

 

Để lại một bình luận