PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC – HOÀN THIỆN THỂ CHẾ DÂN CHỦ TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN MỚI
Phân tích những điểm mới của Luật số 97/2025/QH15 dưới góc nhìn pháp lý và thực tiễn
Ngày 27/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật số 97/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đây là đạo luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường giám sát, phản biện xã hội, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
- NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ NỘI DUNG TRỌNG TÂM CỦA LUẬT
Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (Luật số 97/2025/QH15) bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng; thể chế hoá đầy đủ các quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Cương lĩnh chính trị, các văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, nhất là Đề án sắp xếp, hợp nhất các tổ chức chính trị – xã hội, các hội quần chúng do Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được thông qua tại Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12.4.2025 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
Cùng với đó là bám sát và cụ thể hóa đầy đủ quy định của Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung tại Nghị quyết số 203/2025/QH15) liên quan trực tiếp tới MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và tổ chức chính quyền địa phương; kế thừa các quy định hiện hành còn phù hợp với thực tiễn, tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều cần thiết gắn với yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy của MTTQ Việt Nam, bảo đảm tổ chức của MTTQ Việt Nam tương ứng với tổ chức đơn vị hành chính và chính quyền địa phương 2 cấp gồm cấp tỉnh và cấp xã, được tổ chức tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và thống nhất, thông suốt từ trung ương đến cơ sở.
Theo đó, Luật số 97/2025/QH15 tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 Luật có liên quan trực tiếp đến vị trí, vai trò, chức năng, quyền và trách nhiệm, tổ chức bộ máy và nguyên tắc tổ chức, hoạt động của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các Hội quần chúng được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ; trong đó thể hiện rõ mối quan hệ “trực thuộc” MTTQ Việt Nam, các nguyên tắc hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động do MTTQ Việt Nam chủ trì. Luật bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật khác có liên quan đến quyền, trách nhiệm của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận.
Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tại Điều 1 của Luật đã sửa đổi, bổ sung 11/41 điều của Luật Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam (gồm: Điều 1, Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 16, Điều 18, Điều 20, Điều 25, Điều 26, Điều 32, Điều 33) đã cụ thể hóa đầy đủ, chính xác quy định tại Khoản 1 Điều 9 Hiến pháp năm 2013 (đã được sửa đổi, bổ sung) về vị trí, chức năng, quyền và trách nhiệm của MTTQ Việt Nam. Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được sửa đổi, bổ sung như sau: “Kế thừa vai trò lịch sử của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân đến các cơ quan nhà nước; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Việc sửa đổi tiếp tục khẳng định nguyên tắc hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động là đặc trưng trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh vị trí, vai trò trung tâm, chủ trì của Ủy ban MTTQ Việt Nam, vai trò phối hợp và phát huy tính chủ động, sáng tạo của các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam, Khoản 3 Điều 4 được sửa đổi, bổ sung như sau: “3. Các tổ chức chính trị – xã hội cùng với các tổ chức thành viên khác của Mặt trận hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của mỗi tổ chức thành viên.
Khi phối hợp và thống nhất hành động, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện theo Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và điều lệ của mỗi tổ chức”.
Cùng với đó, nội dung sửa đổi đã cụ thể hoá đầy đủ quy định tại khoản 2 Điều 9 Hiến pháp năm 2013 (đã được sửa đổi, bổ sung) về mối quan hệ “trực thuộc” Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của các tổ chức chính trị – xã hội, các Hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, khoản 2 Điều 5 quy định sau: “Các tổ chức chính trị – xã hội (gồm Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam) và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được tổ chức và hoạt động thống nhất trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”.
Điều chỉnh hệ thống tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương theo tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, nhằm bảo đảm phù hợp với quy định tại Điều 110 Hiến pháp 2013 (đã được sửa đổi, bổ sung) và thống nhất với Điều 1 Luật Tổ chức Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 (sửa đổi). Theo đó, khoản 2 Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau: “Ở địa phương có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, đặc khu (sau đây gọi chung là cấp xã). Ở mỗi cấp có Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định.”.
Đồng thời điều chỉnh thẩm quyền của Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp tỉnh, cấp xã khi không còn cấp huyện trong một số nhiệm vụ, như: giao Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp tỉnh, cấp xã có trách nhiệm tổ chức tiếp xúc cử tri của Đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 2 Điều 16); quy định chung Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử bào chữa viên nhân dân (khoản 2 Điều 18); giao Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh chủ trì lựa chọn, giới thiệu người đủ điều kiện, tiêu chuẩn để Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bầu làm Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân khu vực (khoản 2 Điều 20).
Điều chỉnh vai trò của Ủy ban MTTQ Việt Nam trong chủ trì và thống nhất với các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện hoạt động giám sát, phản biện xã hội để phù hợp với tính chất trực thuộc và nguyên tắc hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động do MTTQ Việt Nam chủ trì (khoản 1 Điều 25, khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 32).
Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công đoàn
Tại Điều 2 của Luật đã sửa đổi, bổ sung 8/37 điều của Luật Công đoàn (gồm: Điều 1, Điều 4, Điều 8, Điều 14, Điều 19, Điều 29, Điều 31, Điều 32) nhằm bảo đảm cụ thể hóa đầy đủ quy định tại Điều 10 Hiến pháp năm 2013 (đã được sửa đổi, bổ sung) về vị trí, vai trò, mối quan hệ “trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” của Công đoàn Việt Nam, về quyền và trách nhiệm của Công đoàn trong đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên công đoàn và người lao động, khẳng định Công đoàn là “đại diện duy nhất” của người lao động ở cấp quốc gia trong quan hệ lao động và quan hệ quốc tế về công đoàn.
Theo đó, Điều 1 Luật Công đoàn Việt Nam được sửa đổi, bổ sung như sau: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên công đoàn và người lao động; là đại diện duy nhất của người lao động ở cấp quốc gia trong quan hệ lao động và quan hệ quốc tế về công đoàn; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Điều chỉnh hệ thống tổ chức Công đoàn để bảo đảm phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và gắn với đặc thù của tổ chức công đoàn (không theo địa bàn dân cư mà chủ yếu ở đơn vị, doanh nghiệp theo phương châm “ở đâu có người lao động, ở đó có công đoàn”), theo đó, khoản 1 Điều 8 quy định về Hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Công đoàn Việt Nam là tổ chức thống nhất gồm các cấp sau đây:
- a) Cấp trung ương là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;
- b) Công đoàn cấp trên cơ sở gồm liên đoàn lao động tỉnh, thành phố (sau đây gọi là liên đoàn lao động cấp tỉnh); công đoàn ngành trung ương; công đoàn tập đoàn kinh tế, công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và công đoàn cấp trên cơ sở đặc thù do cấp có thẩm quyền cho phép thành lập phù hợp với tổ chức Công đoàn;
- c) Công đoàn cấp cơ sở gồm công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn cơ sở”.
Thực hiện chủ trương kết thúc hoạt động của công đoàn viên chức, công đoàn lực lượng vũ trang theo Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của BCH Trung ương Đảng và Kết luận số 157-KL/TW ngày 25/5/2025 của Bộ Chính trị, Luật đã điều chỉnh không còn tổ chức công đoàn trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước. Đồng thời, tại Luật bổ sung quy định đơn vị sự nghiệp không hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước là đối tượng đóng công đoàn phí (do các đơn vị này vẫn có tổ chức công đoàn) và giao Chính phủ quy định cụ thể về đơn vị sự nghiệp không hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước để bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các quy định của Chính phủ về đơn vị sự nghiệp theo các mức độ tự chủ về tài chính, bảo đảm công khai, minh bạch về đối tượng đóng kinh phí công đoàn và tạo thuận lợi cho quá trình áp dụng (Điểm b, c Khoản 1 Điều 29).
Bổ sung quy định trách nhiệm của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong việc hàng năm báo cáo Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dự toán và quyết toán tài chính công đoàn của Công đoàn Việt Nam quy định tại các Điểm a, b, d Khoản 1 Điều 29 và Khoản 2 Điều 31 của Luật Công đoàn nhằm bảo đảm phù hợp với tính chất “trực thuộc” MTTQ Việt Nam, thống nhất giữa đơn vị dự toán cấp 1 và đơn vị dự toán cấp 2, phù hợp với quy định trách nhiệm của Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam trong lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện về quản lý tài sản, tài chính của cơ quan Trung ương MTTQ Việt Nam tại Quyết định số 304-QĐ/TW (Khoản 7 Điều 31).
Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thanh niên
Tại Điều 3 của Luật đã sửa đổi, bổ sung 02/41 điều của Luật Thanh niên (gồm: khoản 3 Điều 17, khoản 1 Điều 28) điều chỉnh chính sách lao động, việc làm đối với thanh niên theo hướng Tạo điều kiện cho thanh niên được vay các nguồn vốn ưu đãi để tạo việc làm, phát triển sản xuất, kinh doanh (khoản 3 Điều 17) để thống nhất với Luật Việc làm năm 2025 khi không còn quy định về Quỹ quốc gia về việc làm.
Cụ thể hóa Khoản 2 Điều 9 Hiến pháp năm 2013 (đã được sửa đổi, bổ sung), thống nhất với quy định tại Luật MTTQ Việt Nam về tính chất “trực thuộc” Mặt trận Tổ quốc, Luật khẳng định rõ: “Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị – xã hội của thanh niên Việt Nam, trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, giữ vai trò nòng cốt trong phong trào thanh niên và tổ chức thanh niên; tổ chức hướng dẫn hoạt động của thiếu niên, nhi đồng, phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh” (Khoản 1 Điều 28).
Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở
Tại Điều 4 của Luật đã sửa đổi, bổ sung 32/91 điều của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (gồm: Điều 2, Điều 4, Điều 8, Điều 11, Điều 12, Điều 24, Điều 25, Điều 26, Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 34, Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều 41, Điều 47, Điều 50, Điều 51, Điều 52, Điều 54, Điều 55, Điều 59, Điều 60, Điều 62, Điều 63, Điều 83, Điều 85, Điều 86) điều chỉnh các quy định liên quan tới thực hiện dân chủ ở cơ sở theo tổ chức chính quyền địa phương hai cấp (không còn cấp huyện, không còn thị trấn, có đặc khu ở hải đảo) và không còn đội ngũ cán bộ không chuyên trách cấp xã.
Cùng với đó là bãi bỏ các quy định về trách nhiệm của tổ chức Công đoàn, Ban chấp hành công đoàn tại các cơ quan, đơn vị nơi không có tổ chức công đoàn cơ sở để thực hiện chủ trương kết thúc hoạt động của công đoàn trong cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, đơn vị sự nghiệp hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước.
Điều chỉnh thẩm quyền và trách nhiệm của Bộ Nội vụ trong tiếp nhận nhiệm vụ quản lý về thực hiện dân chủ trong các tổ chức có sử dụng lao động khi không còn Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (điểm Khoản 2 Điều 83).
Về điều khoản chuyển tiếp
Tại đơn vị sự nghiệp không hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước vẫn còn tổ chức công đoàn cơ sở và các tổ chức công đoàn tiếp tục phát huy vai trò, trách nhiệm trong thực hiện dân chủ ở cơ sở và với tổ chức, hoạt động của Ban thanh tra nhân dân tại đơn vị, Luật có quy định chuyển tiếp “Công đoàn, Ban Chấp hành Công đoàn ở đơn vị sự nghiệp không hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước thì tiếp tục thực hiện quy định tại Chương III của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở số 10/2022/QH15” (Điều 5).
Để bảo đảm các quy định của Luật được triển khai hiệu quả, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đang phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai một số nhiệm vụ như: Xây dựng và ban hành Kế hoạch thi hành Luật; xây dựng và ban hành văn bản quy định chi tiết các nội dung được giao trong Luật; Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện.
- Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc sắp xếp tổ chức bộ máy
Một trong những mục tiêu quan trọng của Luật là đồng bộ hóa hệ thống pháp luật với chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng và Nhà nước.
Các quy định được sửa đổi nhằm:
- bảo đảm tính thống nhất giữa các luật;
- giảm sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ;
- nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội;
- đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và chuyển đổi mô hình quản trị hiện đại.
Việc hoàn thiện khung pháp lý sẽ tạo điều kiện để các tổ chức hoạt động linh hoạt, hiệu quả và gần dân hơn.
- Khẳng định vai trò trung tâm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Luật tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị, tổ chức đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân.
Các nội dung được sửa đổi hướng tới:
- tăng cường tập hợp, đoàn kết các tầng lớp Nhân dân;
- phát huy dân chủ;
- bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân;
- mở rộng sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật.
- Nâng cao hiệu quả giám sát và phản biện xã hội
Luật sửa đổi theo hướng làm rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc tiếp thu, giải trình các ý kiến giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên.
Điều này góp phần:
- nâng cao chất lượng xây dựng chính sách;
- tăng tính công khai, minh bạch;
- phòng ngừa sai phạm trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật;
- củng cố niềm tin của Nhân dân đối với các cơ quan nhà nước.
- Đổi mới hoạt động của tổ chức Công đoàn
Luật sửa đổi một số quy định nhằm bảo đảm sự thống nhất với mô hình tổ chức mới của hệ thống chính trị, đồng thời tiếp tục khẳng định vai trò của Công đoàn trong:
- đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động;
- tham gia xây dựng chính sách liên quan đến lao động;
- giám sát việc thực hiện pháp luật về lao động, bảo hiểm xã hội và an toàn, vệ sinh lao động;
- xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
- Phát huy vai trò của thanh niên trong phát triển đất nước
Đối với Luật Thanh niên, các nội dung sửa đổi tập trung tạo điều kiện để thanh niên tham gia nhiều hơn vào:
- chuyển đổi số;
- đổi mới sáng tạo;
- khởi nghiệp;
- phát triển khoa học và công nghệ;
- hoạt động tình nguyện vì cộng đồng.
Qua đó, thanh niên được khuyến khích phát huy trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm đối với sự phát triển của đất nước.
- Hoàn thiện cơ chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Luật tiếp tục hoàn thiện các quy định bảo đảm để người dân được:
- biết;
- bàn;
- tham gia ý kiến;
- kiểm tra;
- giám sát;
- thụ hưởng kết quả phát triển.
Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân, lấy người dân làm trung tâm.
- Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội
Một điểm mới đáng chú ý là khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong:
- tiếp nhận kiến nghị của người dân;
- quản lý đoàn viên, hội viên;
- tổ chức các hoạt động tuyên truyền;
- công khai thông tin;
- lấy ý kiến và phản hồi trực tuyến.
Điều này góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và hiệu quả quản trị.
- NHỮNG ĐIỀU NGƯỜI DÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC CẦN BIẾT
Đối với người dân
Người dân cần nắm rõ rằng mình có quyền:
- tham gia góp ý xây dựng chính sách;
- tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước theo quy định;
- phản ánh, kiến nghị các vấn đề phát sinh ở cơ sở;
- thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Việc chủ động tham gia các hoạt động dân chủ ở cơ sở không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của mỗi công dân trong việc xây dựng xã hội dân chủ, văn minh.
Đối với cơ quan, đơn vị và tổ chức
Các cơ quan, tổ chức cần:
- rà soát, cập nhật quy chế hoạt động phù hợp với quy định mới;
- bảo đảm công khai, minh bạch trong việc cung cấp thông tin;
- tăng cường đối thoại với Nhân dân và người lao động;
- thực hiện nghiêm túc việc tiếp thu, giải trình các ý kiến giám sát, phản biện;
- ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả phục vụ người dân.
05 điểm người dân cần đặc biệt lưu ý
– Chủ động tham gia góp ý đối với các chính sách, quy định liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của mình.
– Thực hiện quyền giám sát thông qua các hình thức được pháp luật quy định.
– Phản ánh, kiến nghị kịp thời các vấn đề phát sinh tại địa phương.
– Tham gia các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội khi có điều kiện.
– Phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm công dân trong xây dựng chính quyền và cộng đồng.
III. GÓC NHÌN VÀ NHẬN ĐỊNH CỦA THS. NGUYỄN HỮU LONG
Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục
Theo ThS. Nguyễn Hữu Long, Luật số 97/2025/QH15 mang ý nghĩa đặc biệt trong tiến trình hoàn thiện thể chế về đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Việc sửa đổi đồng thời nhiều đạo luật có liên quan không chỉ nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật mà còn đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các thiết chế chính trị – xã hội trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Ông cho rằng, điểm nổi bật của Luật là đặt người dân ở vị trí trung tâm của quá trình quản trị quốc gia. Các quy định về giám sát, phản biện xã hội và thực hiện dân chủ ở cơ sở tạo điều kiện để người dân tham gia sâu rộng hơn vào việc xây dựng và thực thi chính sách, qua đó nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Ở góc độ giáo dục pháp luật, ThS. Nguyễn Hữu Long nhấn mạnh rằng việc nâng cao nhận thức pháp lý của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả thực thi Luật. Khi mỗi công dân hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội sẽ được củng cố, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
Đối với các cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức, việc triển khai Luật cần gắn với cải cách hành chính, chuyển đổi số và đổi mới phương thức phục vụ. Chỉ khi các quy định của Luật được thực hiện đồng bộ, công khai và minh bạch thì quyền làm chủ của Nhân dân mới thực sự được phát huy trên thực tế.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Luật số 97/2025/QH15 là bước hoàn thiện quan trọng của hệ thống pháp luật về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Thanh niên và thực hiện dân chủ ở cơ sở. Những sửa đổi, bổ sung của Luật không chỉ đáp ứng yêu cầu sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy mà còn tăng cường vai trò của Nhân dân trong quản lý nhà nước và đời sống xã hội.
Để Luật đi vào cuộc sống, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức đa dạng, dễ tiếp cận; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trực tiếp triển khai; đồng thời khuyến khích người dân tích cực tham gia các hoạt động giám sát, phản biện xã hội và thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở.
Dưới góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long, việc thực hiện hiệu quả Luật số 97/2025/QH15 không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nền hành chính phục vụ, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

