KHAI THÔNG NGUỒN LỰC NHÀ, ĐẤT DÔI DƯ – BIẾN TÀI SẢN CÔNG THÀNH ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 31/2026/NQ-CP
Góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục
Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị.
I. BỐI CẢNH PHÁP LÝ VÀ Ý NGHĨA BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT SỐ 31/2026/NQ-CP
Góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục
Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị.
1. Bối cảnh thực tiễn đặt ra yêu cầu ban hành Nghị quyết
Trong tiến trình thực hiện chủ trương của Đảng về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng thời triển khai việc sắp xếp đơn vị hành chính các cấp, trên phạm vi cả nước đã phát sinh một lượng rất lớn trụ sở làm việc, nhà, đất công không còn nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả.
Đây là hệ quả tất yếu của quá trình:
- Sáp nhập đơn vị hành chính;
- Tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình mới;
- Hợp nhất cơ quan chuyên môn;
- Tinh giản đầu mối tổ chức;
- Chuyển đổi mô hình hoạt động của nhiều đơn vị sự nghiệp công lập.
Sau quá trình sắp xếp, nhiều trụ sở cũ, công trình công cộng và quỹ đất đi kèm trở thành tài sản dôi dư.
Nếu không có cơ chế xử lý kịp thời sẽ dẫn đến hàng loạt hệ lụy:
- tài sản xuống cấp;
- thất thoát, lãng phí ngân sách;
- phát sinh chi phí bảo vệ, duy tu;
- giảm hiệu quả sử dụng tài sản công;
- bỏ lỡ cơ hội phát triển kinh tế địa phương.
Đây không chỉ là vấn đề quản lý tài sản công mà còn liên quan trực tiếp đến hiệu quả cải cách bộ máy hành chính, quản trị quốc gia và khai thác nguồn lực phát triển.
Trong thực tiễn nhiều địa phương, không ít công trình có giá trị hàng chục, hàng trăm tỷ đồng phải đóng cửa nhiều năm chỉ vì chưa hoàn thành thủ tục pháp lý xử lý tài sản công. Trong khi đó, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và người dân lại thiếu mặt bằng sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ công.
Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một cơ chế đặc thù, đơn giản hóa trình tự, phân cấp mạnh hơn cho địa phương nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch và chống thất thoát tài sản nhà nước.
Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 24/6/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 31/2026/NQ-CP quy định các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý và khai thác nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính.
- Căn cứ pháp lý quan trọng của Nghị quyết
Nghị quyết được xây dựng trên cơ sở nhiều văn bản pháp luật quan trọng, tạo nên hành lang pháp lý thống nhất trong quản lý tài sản công, gồm:
- Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025;
- Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025;
- Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 và các luật sửa đổi, bổ sung;
- Nghị định số 108/2024/NĐ-CP về quản lý, sử dụng và khai thác nhà, đất là tài sản công không sử dụng vào mục đích để ở;
- Nghị định số 186/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý, sử dụng tài sản công;
- Nghị định số 286/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các nghị định về quản lý tài sản công;
- Nghị định số 52/2026/NĐ-CP về quản lý tài sản tại cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Luật Đất đai năm 2024 và các quy định hướng dẫn thi hành.
Các căn cứ pháp lý này cho thấy Nghị quyết 31 không tạo ra một cơ chế tách rời hệ thống pháp luật hiện hành mà là cơ chế đặc thù nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn trong quá trình xử lý tài sản công phát sinh do cải cách tổ chức bộ máy.
- Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Theo Điều 1 và Điều 2 của Nghị quyết, phạm vi điều chỉnh tập trung vào hai nhóm nội dung lớn:
Thứ nhất, quản lý và khai thác nhà, đất dôi dư được giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà của địa phương để đưa vào khai thác nhanh.
Thứ hai, xử lý nhà, đất dôi dư phát sinh sau quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đối tượng áp dụng bao gồm:
- các cơ quan nhà nước;
- cơ quan Đảng;
- đơn vị sự nghiệp công lập;
- tổ chức được giao quản lý, khai thác nhà, đất;
- tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu thuê hoặc khai thác tài sản công;
- các chủ thể khác có liên quan đến quá trình xử lý tài sản công dôi dư.
4. Điểm mới nổi bật của Nghị quyết
So với các quy định trước đây, Nghị quyết 31 mang tính đột phá ở nhiều khía cạnh.
Thứ nhất, phân cấp mạnh cho địa phương
Chủ tịch UBND cấp tỉnh được trao quyền quyết định việc quản lý, khai thác các cơ sở nhà, đất dôi dư, kể cả đối với một số tài sản do cơ quan trung ương chuyển giao, nhằm rút ngắn thời gian xử lý và bảo đảm phù hợp với nhu cầu phát triển của địa phương.
Thứ hai, đẩy nhanh việc đưa tài sản công vào khai thác
Nghị quyết cho phép khai thác cả đối với những cơ sở nhà, đất chưa có hoặc bị thất lạc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời không bắt buộc phải hoàn thành toàn bộ yêu cầu về quy hoạch trước khi khai thác trong một số trường hợp, qua đó khắc phục tình trạng tài sản bỏ không kéo dài.
Thứ ba, đơn giản hóa thủ tục
Tổ chức quản lý, kinh doanh nhà được chủ động lập phương án khai thác và trình cấp có thẩm quyền xem xét mà không phải thực hiện nhiều bước điều chỉnh kế hoạch như trước đây, góp phần rút ngắn đáng kể thời gian đưa tài sản vào sử dụng.
Thứ tư, đa dạng phương thức khai thác
Nghị quyết quy định việc cho thuê nhà, đất thông qua niêm yết giá hoặc chào giá cạnh tranh, tạo điều kiện để lựa chọn người thuê theo hướng công khai, minh bạch và phù hợp với từng loại tài sản.
Thứ năm, bảo đảm công khai, minh bạch
Thông tin về tài sản cho thuê phải được niêm yết công khai, đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của địa phương và tổ chức quản lý, kinh doanh nhà; quy trình lựa chọn người thuê, xử lý tiền đặt trước và ký kết hợp đồng đều được quy định rõ ràng.
- Ý nghĩa của Nghị quyết đối với phát triển kinh tế – xã hội
Dưới góc nhìn pháp lý và quản trị công, Nghị quyết số 31/2026/NQ-CP mang nhiều ý nghĩa quan trọng.
Đây là bước chuyển từ tư duy “quản lý tài sản” sang “khai thác nguồn lực phát triển”. Nhà, đất công không còn bị nhìn nhận như tài sản cần bảo quản đơn thuần mà trở thành nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế địa phương, hỗ trợ doanh nghiệp, tạo thêm việc làm và tăng thu cho ngân sách.
Đồng thời, Nghị quyết còn góp phần:
- giảm tình trạng lãng phí tài sản công;
- nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước;
- thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính;
- tăng tính minh bạch trong quản lý tài sản công;
- tạo môi trường đầu tư thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.
Dưới góc độ xã hội, việc khai thác hiệu quả quỹ nhà, đất dôi dư còn giúp nhiều công trình được tái sử dụng cho các mục tiêu giáo dục, y tế, văn hóa, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và phát triển cộng đồng, thay vì bị bỏ hoang trong thời gian dài.
- NHỮNG ĐIỂM MỚI QUAN TRỌNG CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 31/2026/NQ-CP – KHAI THÔNG NGUỒN LỰC TÀI SẢN CÔNG
Nếu phần I giúp người đọc hiểu vì sao Nghị quyết được ban hành thì phần II tập trung phân tích các cơ chế mới có tính đột phá, qua đó cho thấy tư duy đổi mới trong quản lý tài sản công của Nhà nước.
1. Trao quyền mạnh hơn cho địa phương trong quản lý, khai thác nhà, đất dôi dư
Một trong những điểm đổi mới quan trọng nhất của Nghị quyết là mở rộng thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh trong việc quyết định quản lý, khai thác các cơ sở nhà, đất dôi dư.
Theo Điều 3, Chủ tịch UBND cấp tỉnh được quyết định giao tổ chức quản lý, kinh doanh nhà của địa phương tiếp nhận, quản lý và khai thác các cơ sở nhà, đất dôi dư, kể cả một số tài sản do cơ quan trung ương chuyển giao về địa phương quản lý, trên cơ sở bảo đảm lợi ích kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Đây là bước chuyển từ cơ chế quản lý tập trung sang phân cấp mạnh, giúp địa phương chủ động hơn trong khai thác nguồn lực, giảm tình trạng chờ hướng dẫn hoặc xin ý kiến nhiều cấp.
Góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long
Đây không đơn thuần là việc giao thêm thẩm quyền mà còn là giao thêm trách nhiệm. Khi được trao quyền nhiều hơn, chính quyền địa phương phải nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm mọi quyết định đều công khai, minh bạch và vì lợi ích chung của cộng đồng.
2. Đưa tài sản vào khai thác ngay, không để “đóng băng”
Một điểm rất đáng chú ý là Nghị quyết cho phép đưa nhiều cơ sở nhà, đất vào khai thác ngay cả khi:
- chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Giấy chứng nhận bị thất lạc;
- chưa hoàn thiện toàn bộ các thủ tục quy hoạch theo quy định thông thường.
Quy định này tại Điều 3 nhằm giải quyết thực trạng nhiều tài sản công bị bỏ hoang nhiều năm chỉ vì chờ hoàn thiện hồ sơ pháp lý.
Tuy nhiên, việc khai thác vẫn phải bảo đảm không ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, môi trường và quyền lợi của Nhà nước.
Đây là tư duy quản trị hiện đại, chuyển từ “đợi đủ điều kiện mới khai thác” sang “vừa hoàn thiện thủ tục, vừa khai thác có kiểm soát”, giúp tiết kiệm nguồn lực xã hội.
3. Chủ động xây dựng phương án khai thác
Theo Điều 3 và Điều 4, tổ chức quản lý, kinh doanh nhà được quyền chủ động:
- lập phương án khai thác;
- đề xuất bố trí sử dụng tạm thời;
- đề xuất cho thuê;
- báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Sau khi được chấp thuận, tổ chức quản lý không phải thực hiện thêm nhiều bước điều chỉnh kế hoạch như trước đây.
Quy định này rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tài sản công, góp phần đưa nhà, đất vào sử dụng nhanh hơn.
4. Minh bạch trong xác định giá thuê
Nghị quyết dành riêng Điều 5 quy định nguyên tắc xác định đơn giá thuê nhà.
Điểm mới là đơn giá được xây dựng trên cơ sở:
- giá trị hao mòn của tài sản;
- giá thuê đất theo quy định của Luật Đất đai;
- diện tích sử dụng thực tế;
- hệ số chi phí quản lý.
Không còn áp dụng cơ chế ban hành bảng giá cứng cho từng tài sản, mà cho phép xác định đơn giá phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
Điều này vừa bảo đảm khai thác hiệu quả tài sản công, vừa hạn chế thất thu ngân sách.
5. Quy định rõ thời hạn thuê
Theo Điều 6, thời hạn thuê tối đa là 10 năm, đồng thời có thể được gia hạn nếu đáp ứng điều kiện theo quy định.
Quy định này tạo sự ổn định cho tổ chức, doanh nghiệp đầu tư vào tài sản thuê nhưng vẫn bảo đảm Nhà nước có điều kiện xem xét điều chỉnh khi cần thiết.
6. Hai phương thức lựa chọn người thuê
Một điểm rất tiến bộ của Nghị quyết là quy định hai phương thức xác định người thuê:
a) Niêm yết giá (Điều 8)
Áp dụng đối với những trường hợp đủ điều kiện theo quy định.
Người đăng ký hợp lệ sẽ được lựa chọn thông qua quy trình công khai, minh bạch; trường hợp có nhiều người cùng đăng ký thì thực hiện bốc thăm theo quy định.
b) Chào giá cạnh tranh (Điều 9)
Áp dụng đối với các trường hợp không thuộc diện niêm yết giá.
Người có mức giá đề xuất cao nhất sẽ được lựa chọn; nếu có nhiều người cùng mức giá thì tiếp tục bốc thăm.
Đây là cơ chế vừa bảo đảm công bằng vừa khai thác tối đa giá trị tài sản công.
7. Công khai thông tin cho thuê
Theo Điều 7, toàn bộ danh mục nhà, đất cho thuê phải được:
- niêm yết công khai;
- đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của địa phương;
- công bố trên trang thông tin của tổ chức quản lý.
Thời gian thông báo tối thiểu từ 05 đến 07 ngày liên tục.
Quy định này giúp mọi tổ chức, cá nhân đều có cơ hội tiếp cận thông tin như nhau.
III. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – TÂM LÝ – GIÁO DỤC: BIẾN TÀI SẢN CÔNG THÀNH ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN
1. Góc nhìn pháp lý
Dưới góc độ pháp lý, Nghị quyết 31 đánh dấu sự thay đổi tư duy từ “quản lý tài sản” sang “quản trị tài sản công”.
Nếu trước đây trọng tâm là bảo toàn tài sản thì nay mục tiêu cao hơn là:
- sử dụng hiệu quả;
- tạo nguồn thu;
- phục vụ phát triển kinh tế – xã hội;
- tránh lãng phí.
Việc bổ sung các cơ chế đặc thù không làm thay đổi nguyên tắc quản lý tài sản công mà chỉ rút ngắn thủ tục và tăng tính chủ động trong thực hiện.
2. Góc nhìn tâm lý xã hội
Một trụ sở bỏ hoang nhiều năm dễ tạo cảm giác lãng phí, xuống cấp và giảm niềm tin của người dân đối với hiệu quả quản lý nhà nước.
Ngược lại, khi tài sản được khai thác nhanh chóng thành:
- trung tâm khởi nghiệp;
- cơ sở giáo dục;
- cơ sở y tế;
- văn phòng làm việc;
- không gian sáng tạo,
người dân sẽ cảm nhận rõ hơn hiệu quả của cải cách hành chính.
Chính sách này vì vậy không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn mang giá trị tâm lý xã hội rất lớn.
- Góc nhìn giáo dục pháp luật
Nghị quyết góp phần giáo dục cộng đồng về:
- ý thức tiết kiệm tài sản công;
- trách nhiệm bảo vệ ngân sách nhà nước;
- văn hóa sử dụng hiệu quả nguồn lực quốc gia;
- tính minh bạch trong tiếp cận tài sản công.
Đây là nền tảng để xây dựng xã hội pháp quyền, nơi mọi nguồn lực đều được sử dụng đúng mục đích và đúng quy định của pháp luật.
- Góc nhìn quản trị công hiện đại
Theo quan điểm của ThS. Nguyễn Hữu Long, Nghị quyết thể hiện bốn tư duy quản trị mới:
- phân cấp mạnh đi đôi với kiểm soát quyền lực;
- giảm thủ tục nhưng tăng trách nhiệm giải trình;
- khai thác tài sản công theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước;
- lấy hiệu quả phục vụ người dân và phát triển địa phương làm trung tâm.
Đây là mô hình quản trị phù hợp với xu hướng xây dựng Chính phủ số và nền hành chính hiện đại.
IV. KHUYẾN NGHỊ CỦA CHUYÊN GIA VÀ THÔNG ĐIỆP NHÂN VĂN
Những khuyến nghị dành cho cơ quan nhà nước
- Rà soát toàn bộ quỹ nhà, đất dôi dư ngay sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy.
- Chủ động lập phương án khai thác thay vì để tài sản xuống cấp.
- Công khai đầy đủ thông tin cho thuê trên các cổng thông tin điện tử.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra để phòng ngừa thất thoát tài sản công.
Khuyến nghị đối với doanh nghiệp và người dân
- Chủ động theo dõi các thông báo cho thuê tài sản công.
- Nghiên cứu kỹ điều kiện, thời hạn thuê và nghĩa vụ tài chính trước khi đăng ký.
- Thực hiện đúng các quy định về hợp đồng, sử dụng tài sản và bảo vệ tài sản công.
- Tích cực giám sát, phản ánh các dấu hiệu thiếu minh bạch trong quá trình quản lý, khai thác tài sản công.
Khuyến nghị đối với đội ngũ cán bộ
Mỗi cán bộ, công chức cần nhận thức rằng tài sản công không phải là tài sản của một cơ quan riêng lẻ mà là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Mọi hành vi quản lý thiếu trách nhiệm hoặc để xảy ra lãng phí đều ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lực phát triển đất nước.
THÔNG ĐIỆP NHÂN VĂN
“Một quốc gia phát triển không chỉ được đo bằng số lượng tài sản công đang sở hữu, mà còn được đánh giá bằng khả năng khai thác hiệu quả từng mét vuông đất, từng công trình công và từng đồng ngân sách của Nhân dân. Nghị quyết số 31/2026/NQ-CP đã mở ra một tư duy quản trị mới: biến những tài sản từng bị bỏ quên thành nguồn lực phục vụ cộng đồng, phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Mỗi cơ quan, mỗi cán bộ và mỗi công dân hãy cùng chung tay bảo vệ, sử dụng hiệu quả tài sản công, bởi đó chính là gìn giữ và phát huy nguồn lực của quốc gia cho hôm nay và các thế hệ mai sau.”
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

