TÌNH HUỐNG SỐ 960: CÁN BỘ HẢI QUAN NHẬN HỐI LỘ ĐỂ BỎ QUA CÁC LÔ HÀNG XUẤT KHẨU GỖ TRÁI PHÉP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN THÌ XỬ LÝ THẾ NÀO?

17 / 100 Điểm SEO

 

Tiếp tay cho buôn lậu; quy trình điều tra và xử lý hình sự cán bộ.

Hoạt động xuất khẩu gỗ có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, nhưng cũng là lĩnh vực đòi hỏi sự kiểm soát nghiêm ngặt về nguồn gốc lâm sản, hồ sơ pháp lý và việc tuân thủ các quy định về xuất nhập khẩu. Đặc biệt, đối với những loại gỗ thuộc danh mục cấm, hạn chế khai thác, kinh doanh hoặc xuất khẩu, việc kiểm tra và giám sát phải được thực hiện theo đúng quy định pháp luật.

Tuy nhiên, nếu một cán bộ hải quan lợi dụng vị trí công tác, nhận tiền hoặc lợi ích vật chất từ doanh nghiệp để cố tình bỏ qua các lô hàng gỗ xuất khẩu trái phép thì hành vi này không còn là sai phạm nghiệp vụ thông thường. Nó có thể cấu thành hành vi nhận hối lộ, đồng thời tạo điều kiện cho hoạt động buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

Dưới góc nhìn pháp lý của ThS. Nguyễn Hữu Long, cần làm rõ mối quan hệ giữa hành vi nhận hối lộ của cán bộ hải quan và hành vi vi phạm của doanh nghiệp; xác định trách nhiệm hình sự độc lập của từng chủ thể, đồng thời truy tìm dòng tiền, nguồn gốc gỗ và toàn bộ quá trình thông quan để xử lý đúng người, đúng hành vi, đúng pháp luật.

1. TÓM TẮT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ – THE CASE

Ông H là công chức hải quan đang công tác tại một đơn vị phụ trách kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu tại cửa khẩu cảng biển.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, ông H có quan hệ với một số doanh nghiệp kinh doanh, chế biến và xuất khẩu gỗ. Các doanh nghiệp này thường xuyên đưa những lô hàng gỗ ra nước ngoài nhưng có dấu hiệu không bảo đảm điều kiện pháp lý về nguồn gốc lâm sản, hồ sơ chứng minh tính hợp pháp hoặc thuộc trường hợp bị hạn chế, cấm xuất khẩu.

Thay vì thực hiện đúng quy trình kiểm tra, giám sát, ông H bị cho là đã nhiều lần nhận tiền từ đại diện các doanh nghiệp để bỏ qua sai phạm, cố tình không kiểm tra thực tế hàng hóa hoặc tạo điều kiện để các lô hàng được thông quan.

Để che giấu hành vi, một số doanh nghiệp có thể sử dụng hồ sơ, chứng từ không chính xác, khai báo sai chủng loại, số lượng hoặc nguồn gốc gỗ. Trong khi đó, ông H vẫn xác nhận hoặc thực hiện các thao tác nghiệp vụ cần thiết để hàng hóa được đưa qua biên giới.

Sau khi phát hiện dấu hiệu bất thường từ dữ liệu thông quan, thông tin tố giác và quá trình kiểm tra hồ sơ, cơ quan chức năng tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về việc nhận tiền, nguồn gốc các lô hàng và trách nhiệm của cán bộ hải quan có liên quan.

Vấn đề đặt ra là: Hành vi nhận tiền để bỏ qua hàng hóa xuất khẩu trái phép có cấu thành tội nhận hối lộ hay không? Doanh nghiệp đưa tiền và tổ chức xuất khẩu gỗ trái phép phải chịu trách nhiệm như thế nào? Cơ quan chức năng cần thực hiện quy trình điều tra, khởi tố và xử lý cán bộ hải quan ra sao?

2. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – “LÁ CHẮN VỮNG CHẮC”

2.1. Xác định hành vi vi phạm – Cán bộ hải quan không được bao che, thông đồng để buôn lậu

Trước hết, cần khẳng định công chức hải quan có trách nhiệm thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ, kiểm tra và giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo thẩm quyền.

Theo Điều 19 Luật Hải quan, công chức hải quan phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, quy trình nghiệp vụ và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Đặc biệt, Điều 10 Luật Hải quan quy định những hành vi bị nghiêm cấm đối với công chức hải quan, trong đó có:

  • Bao che, thông đồng để buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại, gian lận thuế.
  • Nhận hối lộ, chiếm dụng, biển thủ hàng hóa tạm giữ hoặc thực hiện hành vi khác nhằm mục đích vụ lợi.
  • Các hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan.

Như vậy, nếu ông H nhận tiền của doanh nghiệp để cố tình bỏ qua các lô hàng gỗ có dấu hiệu vi phạm, hành vi này đã trực tiếp đi ngược lại những yêu cầu cơ bản trong thực thi nhiệm vụ hải quan.

Tuy nhiên, cần làm rõ rằng không phải mọi lô hàng gỗ có hồ sơ chưa đầy đủ đều đương nhiên là hàng hóa buôn lậu. Cơ quan chức năng phải xác định loại gỗ, nguồn gốc, tình trạng pháp lý, quy định quản lý đối với từng loại sản phẩm và hành vi cụ thể của doanh nghiệp.

Việc đánh giá tính hợp pháp của gỗ cần đối chiếu Luật Lâm nghiệp năm 2017, Nghị định số 102/2020/NĐ-CP về Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam và Nghị định số 120/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan.  

2.2. Trách nhiệm hình sự của cán bộ hải quan – Tội nhận hối lộ

Hành vi nhận tiền để bỏ qua sai phạm của doanh nghiệp có thể bị xem xét về tội nhận hối lộ theo Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Theo quy định này, người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận lợi ích vật chất, lợi ích phi vật chất cho chính bản thân hoặc người khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Đối chiếu tình huống:

  • Chủ thể: Ông H là công chức hải quan, được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu.
  • Hành vi: Nhận tiền từ doanh nghiệp để cố tình không kiểm tra, không phát hiện hoặc bỏ qua sai phạm trong quá trình làm thủ tục hải quan.
  • Mối liên hệ giữa lợi ích và công vụ: Khoản tiền được đưa nhằm đổi lấy việc ông H thực hiện hoặc không thực hiện một công việc thuộc trách nhiệm, quyền hạn của mình.
  • Lỗi: Người nhận phải có nhận thức và ý chí đối với hành vi nhận lợi ích để thực hiện hoặc không thực hiện công việc theo yêu cầu của bên đưa hối lộ.

Cần lưu ý, theo Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, Điều 354 đã được sửa đổi về các tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, khi đánh giá trách nhiệm của ông H phải đối chiếu quy định đang có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi, đặc biệt là giá trị của hối lộ, số lần thực hiện và những tình tiết định khung khác.

Ngoài ra, nếu ông H còn cố ý tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện hành vi buôn lậu, có thể xem xét trách nhiệm đồng phạm về tội buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự, nếu chứng minh được sự cố ý cùng thực hiện hoặc giúp sức và các dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Không được mặc nhiên áp dụng đồng thời nhiều tội danh chỉ vì một hành vi có nhiều biểu hiện sai phạm. Cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định rõ hành vi nhận hối lộ và hành vi giúp sức cho buôn lậu có đủ dấu hiệu cấu thành các tội độc lập hay không 

2.3. Trách nhiệm của doanh nghiệp đưa hối lộ và tổ chức xuất khẩu gỗ trái phép

Không chỉ cán bộ hải quan phải chịu trách nhiệm, các doanh nghiệp chủ động đưa tiền để được bỏ qua sai phạm cũng phải được xem xét xử lý.

Thứ nhất, về hành vi đưa hối lộ.

Người đại diện doanh nghiệp hoặc cá nhân trực tiếp đưa tiền cho ông H để đổi lấy việc bỏ qua sai phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đưa hối lộ theo Điều 364 Bộ luật Hình sự.

Việc xác định trách nhiệm phải căn cứ vào vai trò, nhận thức, mục đích và hành vi cụ thể của từng cá nhân. Không thể chỉ dựa vào chức danh giám đốc hoặc người đại diện theo pháp luật để quy kết trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, về hành vi buôn lậu.

Nếu doanh nghiệp cố ý đưa hàng hóa thuộc trường hợp cấm xuất khẩu hoặc hàng hóa được xuất khẩu nhưng thực hiện thủ đoạn trái pháp luật nhằm đưa qua biên giới, có thể bị xem xét về tội buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự khi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành.

Cần phân biệt giữa hành vi buôn lậu với những vi phạm hành chính về hồ sơ, thủ tục hải quan hoặc quản lý lâm sản. Không phải mọi sai sót trong hồ sơ xuất khẩu đều mặc nhiên cấu thành tội buôn lậu.

Thứ ba, trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.

Đối với doanh nghiệp, cần phân biệt trách nhiệm của cá nhân đưa hối lộ với trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Theo Điều 76 Bộ luật Hình sự, pháp nhân thương mại chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với những tội danh được liệt kê tại điều luật này.

Trong đó, tội buôn lậu theo Điều 188 thuộc nhóm tội danh mà pháp nhân thương mại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 75. Ngược lại, tội đưa hối lộ theo Điều 364 không thuộc danh mục tội danh áp dụng đối với pháp nhân thương mại.

Do đó, doanh nghiệp có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu; còn cá nhân trực tiếp đưa hối lộ phải được xem xét trách nhiệm theo Điều 364 nếu có đủ căn cứ 

2.4. Xử lý hàng hóa vi phạm và trách nhiệm quản lý của cơ quan hải quan

Bên cạnh việc xử lý cán bộ và doanh nghiệp, cần có biện pháp ngăn chặn việc tiếp tục đưa các lô hàng vi phạm ra nước ngoài.

Cơ quan có thẩm quyền cần xem xét:

  • Kiểm tra, xác định chủng loại, khối lượng, giá trị và nguồn gốc thực tế của gỗ.
  • Đối chiếu hồ sơ hải quan với chứng từ lâm sản, hồ sơ khai thác, mua bán, vận chuyển và chế biến.
  • Xác định lô hàng đã thông quan, đang lưu giữ tại cảng hay đã được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
  • Truy tìm các lô hàng có liên quan, các doanh nghiệp cùng tham gia và phương thức hợp thức hóa hồ sơ.
  • Áp dụng biện pháp tạm giữ, niêm phong, thu giữ hoặc xử lý hàng hóa theo đúng thẩm quyền và quy định pháp luật.

Theo Luật Hải quan, cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hàng hóa và xử lý các dấu hiệu vi phạm trong phạm vi thẩm quyền. Khi phát hiện dấu hiệu tội phạm, việc chuyển hồ sơ hoặc thực hiện hoạt động điều tra phải tuân thủ pháp luật về tố tụng hình sự và tổ chức điều tra hình sự.

Đặc biệt, cần rà soát quy trình kiểm tra, phân luồng, xác nhận thông quan và trách nhiệm của những công chức khác có liên quan để xác định đây là hành vi cá nhân hay có sự móc nối trong nội bộ đơn vị.  

3. GÓC NHÌN QUẢN TRỊ – ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ – “CHÌA KHÓA NHÂN VĂN”

Hành vi nhận hối lộ để bỏ qua hàng hóa xuất khẩu trái phép không chỉ làm sai lệch hoạt động kiểm tra, giám sát hải quan mà còn tạo ra một cơ chế tiếp tay cho các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp.

Đằng sau mỗi lô hàng gỗ không rõ nguồn gốc có thể là những hành vi khai thác trái phép, xâm hại tài nguyên rừng, gian lận thương mại và vi phạm các cam kết về bảo vệ môi trường. Khi người có trách nhiệm kiểm soát lại nhận tiền để bao che, hàng rào pháp lý bảo vệ tài nguyên và trật tự quản lý xuất nhập khẩu có nguy cơ bị vô hiệu hóa.

Ở góc độ quản trị, tình huống đặt ra một số vấn đề:

  • Sự liêm chính của công chức hải quan: Người được giao quyền kiểm tra, giám sát hàng hóa phải thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích công, không được biến quyền lực công thành công cụ trao đổi lợi ích cá nhân.
  • Trách nhiệm của người đứng đầu: Lãnh đạo đơn vị hải quan phải kiểm soát việc phân công công chức, giám sát nghiệp vụ, xử lý dấu hiệu bất thường và không để hình thành cơ chế bao che trong nội bộ.
  • Trách nhiệm của doanh nghiệp: Hoạt động xuất khẩu phải dựa trên nguồn gốc hàng hóa hợp pháp, hồ sơ trung thực và sự tuân thủ pháp luật; không thể dùng tiền để mua sự im lặng của người thực thi công vụ.
  • Bảo vệ lợi ích quốc gia và môi trường: Kiểm soát gỗ bất hợp pháp không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan hải quan mà còn góp phần bảo vệ tài nguyên rừng, uy tín thương mại và trách nhiệm môi trường của Việt Nam.

Một cán bộ hải quan nhận hối lộ có thể làm suy giảm niềm tin của người dân, doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và các đối tác thương mại đối với hoạt động quản lý nhà nước. Vì vậy, xử lý hành vi này cần đi đôi với việc khôi phục kỷ cương, minh bạch hóa quy trình nghiệp vụ và kiểm soát quyền lực trong thực thi công vụ.

4. GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CỦA CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG

Để xử lý triệt để hành vi nhận hối lộ và tiếp tay cho buôn lậu, cần triển khai đồng bộ các giải pháp điều tra, xử lý hình sự, thu hồi tài sản và phòng ngừa vi phạm.

Bước 1. Phát hiện, xác minh và bảo toàn chứng cứ

Khi có thông tin tố giác hoặc phát hiện dấu hiệu bất thường trong quá trình thông quan, cơ quan có thẩm quyền cần nhanh chóng tiến hành xác minh, bảo toàn chứng cứ và ngăn chặn nguy cơ tiêu hủy, tẩu tán tài liệu.

Trọng tâm xác minh gồm:

  • Dòng tiền hối lộ: Xác định thời điểm, số tiền, phương thức chuyển giao, tài khoản nhận tiền và người thực tế hưởng lợi.
  • Hồ sơ hải quan: Thu thập tờ khai, chứng từ xuất khẩu, quyết định kiểm tra, kết quả phân luồng, hồ sơ thông quan và dữ liệu xử lý trên hệ thống nghiệp vụ.
  • Hồ sơ lâm sản: Kiểm tra nguồn gốc khai thác, mua bán, vận chuyển, chế biến, bảng kê lâm sản và giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của gỗ.
  • Hàng hóa thực tế: Xác định chủng loại, khối lượng, giá trị, tình trạng và sự khác biệt giữa hàng hóa thực tế với nội dung khai báo.
  • Mối quan hệ giữa các chủ thể: Làm rõ việc liên hệ, thỏa thuận, đưa và nhận tiền giữa cán bộ hải quan với doanh nghiệp; xác định có hay không sự tham gia của những công chức khác.

Cơ quan chức năng cần đối chiếu dữ liệu thông quan với chứng từ thanh toán, thông tin vận chuyển, hồ sơ doanh nghiệp và các tài liệu liên quan. Nếu có căn cứ, áp dụng biện pháp tố tụng để thu giữ, niêm phong tài liệu, thiết bị, dữ liệu điện tử và tài sản theo đúng quy định.

Đặc biệt, cần xác định các lô hàng đã được thông quan trong khoảng thời gian nào, có cùng một phương thức gian lận hay không và liệu hành vi nhận hối lộ có diễn ra nhiều lần, có sự phân công vai trò giữa các cá nhân hay không.

Bước 2. Khởi tố, điều tra và xử lý hình sự đúng người, đúng tội

Khi có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và thực hiện các thủ tục tố tụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình xử lý cần được triển khai theo các hướng:

  1. Xác định tội danh đối với cán bộ hải quan: Làm rõ hành vi nhận tiền để thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ có đủ yếu tố cấu thành tội nhận hối lộ theo Điều 354 Bộ luật Hình sự hay không.
  2. Làm rõ vai trò trong hoạt động buôn lậu: Nếu có chứng cứ cho thấy cán bộ hải quan cố ý giúp sức cho doanh nghiệp đưa hàng hóa qua biên giới trái pháp luật, xem xét trách nhiệm đồng phạm về tội buôn lậu theo Điều 188 khi đủ căn cứ.
  3. Xác định trách nhiệm của người đưa hối lộ: Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân đưa tiền theo Điều 364 nếu có đủ dấu hiệu cấu thành; đồng thời xem xét hành vi buôn lậu của doanh nghiệp và trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại nếu đáp ứng điều kiện luật định.
  4. Mở rộng điều tra khi có dấu hiệu móc nối: Xác minh vai trò của người quản lý, người môi giới, công chức khác và những doanh nghiệp có liên quan; tránh chỉ xử lý người trực tiếp nhận tiền mà bỏ lọt các chủ thể tổ chức, điều hành.

Cần lưu ý rằng cơ quan hải quan có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra đối với những tội phạm thuộc phạm vi luật định. Tuy nhiên, việc thụ lý, điều tra và giải quyết vụ án phải tuân thủ đúng thẩm quyền của cơ quan điều tra và cơ quan tiến hành tố tụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự.

Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn và chuyển hồ sơ phải dựa trên căn cứ pháp luật tương ứng. Không được xem việc bị tố giác, bị kiểm tra hoặc bị tạm đình chỉ công tác là bằng chứng khẳng định người đó đã phạm tội.

Bước 3. Xử lý kỷ luật, thu hồi tài sản và kiểm soát nguy cơ tái phạm

Song song với quá trình điều tra hình sự, cơ quan quản lý cần xem xét trách nhiệm công vụ của cán bộ hải quan và những cá nhân có liên quan theo quy định pháp luật.

Các biện pháp cần thực hiện gồm:

  • Xem xét tạm đình chỉ công tác hoặc bố trí công việc khác nếu có căn cứ và đáp ứng điều kiện pháp luật, nhằm bảo đảm việc xác minh, điều tra không bị cản trở.
  • Xử lý kỷ luật theo quy định về cán bộ, công chức và quy định chuyên ngành có liên quan; trường hợp bị kết án về tội phạm tham nhũng hoặc tội phạm khác thì thực hiện các hậu quả pháp lý tương ứng theo quy định.
  • Truy tìm, thu hồi khoản tiền nhận hối lộ, tài sản do phạm tội mà có và các khoản thu lợi bất chính; xử lý hàng hóa, phương tiện, công cụ phạm tội theo bản án hoặc quyết định có thẩm quyền.
  • Rà soát trách nhiệm quản lý của lãnh đạo đơn vị nếu có dấu hiệu buông lỏng kiểm tra, bao che hoặc can thiệp trái pháp luật vào hoạt động nghiệp vụ.
  • Tăng cường luân chuyển, kiểm soát vị trí công tác nhạy cảm; phân tách trách nhiệm giữa người kiểm tra hồ sơ, người kiểm tra thực tế và người quyết định thông quan.
  • Ứng dụng dữ liệu điện tử, camera giám sát và cơ chế cảnh báo rủi ro để phát hiện các trường hợp thông quan bất thường, lặp lại hoặc có dấu hiệu can thiệp trái phép.
  • Thiết lập kênh tiếp nhận tố giác, phản ánh an toàn cho doanh nghiệp và người dân; bảo vệ người cung cấp thông tin theo quy định pháp luật.

Việc xử lý kỷ luật và xử lý hình sự cần được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự; bảo đảm không bỏ lọt hành vi vi phạm nhưng cũng không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xem xét.

GÓC NHÌN CHUYÊN GIA:

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc về pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi cho chuyên gia tại: https://tuvanphapluattamlygiaoduc.vn/gui-cau-hoi-den-chuyen-gia/

hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

Từ khoá: Tư vấn; Luật đất đai; Bộ luật dân sự; Đòi lại đất; Giải pháp.

 

Để lại một bình luận