TÌNH HUỐNG SỐ 539: DOANH NGHIỆP KÝ HỢP ĐỒNG LIÊN KẾT CHUỖI SẢN XUẤT VỚI NÔNG DÂN TRỒNG ỚT, ĐẾN KỲ THU HOẠCH NÔNG DÂN TUỒN HÀNG RA NGOÀI BÁN CHO THƯƠNG LÁI VÌ GIÁ THỊ TRƯỜNG CAO HƠN GIÁ KÝ KẾT?
Câu chuyện “được mùa mất giá, được giá phá hợp đồng” là nỗi trăn trở kéo dài nhiều năm của mô hình liên kết sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam. Khi giá thị trường đột ngột tăng cao, chữ “tín” trong hợp đồng liên kết dễ bị đặt lên bàn cân với lợi ích kinh tế trước mắt. Hãy cùng chuyên gia ThS. Nguyễn Hữu Long phân tích tình huống thực tế dưới đây để tìm ra hướng xử lý đúng luật và giữ được mối liên kết bền vững.
- Tóm tắt tình huống thực tế
Đầu vụ năm 2026, Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Nông sản X (viết tắt Công ty X) ký hợp đồng liên kết sản xuất và bao tiêu 10 ha ớt với 25 hộ nông dân tại xã Đ, tỉnh G, đại diện là ông Nguyễn Văn P (viết tắt ông P) – Tổ trưởng Tổ hợp tác trồng ớt. Theo hợp đồng, Công ty X ứng trước một phần chi phí giống, phân bón cho nông dân và cam kết bao tiêu toàn bộ sản lượng ớt thu hoạch với giá sàn 12.000 đồng/kg, không phân biệt biến động giá thị trường.
Đến kỳ thu hoạch (tháng 6/2026), do ảnh hưởng của thị trường xuất khẩu, giá ớt tươi trên thị trường tự do tăng vọt lên 22.000 – 25.000 đồng/kg, gần gấp đôi giá đã ký kết với Công ty X. Trước sức hút lợi nhuận, ông P cùng phần lớn các hộ trong Tổ hợp tác đã tự ý bán khoảng 70% sản lượng ớt cho thương lái bên ngoài, chỉ giao cho Công ty X một phần nhỏ sản lượng còn lại, không thông báo hay đàm phán trước với doanh nghiệp.
Công ty X cho rằng nông dân đã vi phạm nghiêm trọng hợp đồng liên kết đã ký, gây thiệt hại lớn vì công ty đã có đơn hàng xuất khẩu cam kết với đối tác nước ngoài nhưng không đủ nguyên liệu giao hàng, phải mua bù ớt trên thị trường với giá cao hơn giá đã cam kết với đối tác. Công ty X yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường toàn bộ thiệt hại phát sinh. Phía ông P và các hộ nông dân thì cho rằng giá thị trường thay đổi là yếu tố khách quan, họ có quyền bán sản phẩm của mình cho bên trả giá cao hơn, đồng thời cho rằng phần vốn ứng trước của công ty chỉ là hỗ trợ chứ không ràng buộc nghĩa vụ giao hết sản lượng.
- Góc nhìn Pháp lý – “Lá chắn vững chắc”
Bản chất pháp lý của hợp đồng liên kết
Hợp đồng liên kết sản xuất và bao tiêu nông sản mà Công ty X và các hộ nông dân đã ký là một loại hợp đồng dân sự – thương mại có yếu tố chuyên ngành, chịu sự điều chỉnh đồng thời của Bộ luật Dân sự năm 2015 (nguyên tắc chung về hợp đồng), Luật Thương mại năm 2005 (đối với quan hệ mua bán hàng hóa có bên là thương nhân) và văn bản chuyên ngành là Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp (còn hiệu lực thi hành).
Trước hết, cần khẳng định: một khi hợp đồng liên kết đã được hai bên tự nguyện ký kết, có nội dung rõ ràng về sản lượng, giá thu mua, thì đây là cam kết ràng buộc pháp lý, không phải sự hỗ trợ đơn phương như phía ông P lập luận. Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ
- Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.
Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.
- Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
Việc giá ớt trên thị trường tăng cao là biến động thị trường thông thường, không phải là sự kiện bất khả kháng (vốn phải là sự kiện xảy ra khách quan, không thể lường trước và không thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết theo Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015), nên ông P và các hộ nông dân không thể viện dẫn lý do này để loại trừ trách nhiệm. Việc tự ý bán 70% sản lượng đã cam kết cho bên thứ ba là hành vi vi phạm nghĩa vụ giao hàng theo đúng số lượng, đúng đối tác đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Chế tài xử lý theo Nghị định chuyên ngành về liên kết nông nghiệp
Đây là loại tranh chấp mà pháp luật đã có quy định chuyên biệt. Điều 15 Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về xử lý tranh chấp, vi phạm khi thực hiện hợp đồng và dự án liên kết quy định:
“Điều 15. Xử lý tranh chấp, vi phạm khi thực hiện hợp đồng và dự án liên kết
- Các bên tham gia liên kết vi phạm các quy định trong hợp đồng liên kết bị xử lý theo các hình thức sau: a) Buộc thực hiện đúng hợp đồng liên kết; b) Phạt vi phạm hợp đồng liên kết; c) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng liên kết; d) Đình chỉ thực hiện hợp đồng liên kết; đ) Hủy bỏ hợp đồng liên kết; e) Buộc bồi thường thiệt hại cho các bên liên quan; g) Các biện pháp khác do các bên tham gia liên kết thỏa thuận không trái với quy định pháp luật hiện hành.
- Hình thức xử lý các tranh chấp hợp đồng liên kết: Nhà nước khuyến khích các hình thức giải quyết tranh chấp của các bên tham gia liên kết bằng hình thức thương lượng và hòa giải. Trường hợp không thống nhất được thì giải quyết thông qua trọng tài thương mại hoặc giải quyết tại tòa án.”
Về mức phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại
Nếu trong hợp đồng liên kết Công ty X và các hộ nông dân có điều khoản thỏa thuận về phạt vi phạm, thì được áp dụng theo Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 (nếu quan hệ được xác định là hợp đồng dân sự thông thường) hoặc theo Điều 300, 301 Luật Thương mại năm 2005 (nếu công ty là thương nhân và quan hệ mua bán hàng hóa được xác định là hoạt động thương mại). Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 418. Thỏa thuận phạt vi phạm
- Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
- Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
- Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.”
Trường hợp quan hệ được xác định là hoạt động thương mại (Công ty X là thương nhân, hai bên lựa chọn áp dụng Luật Thương mại theo Điều 1 của Luật này), mức phạt vi phạm còn bị giới hạn theo Điều 301 Luật Thương mại năm 2005:
“Điều 301. Mức phạt vi phạm
Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.”
Bên cạnh phạt vi phạm (nếu có thỏa thuận), Công ty X hoàn toàn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh từ hành vi vi phạm của nông dân, như: chi phí phải mua bù nguyên liệu ớt trên thị trường với giá cao hơn để kịp giao đơn hàng xuất khẩu, khoản lợi nhuận bị mất do không đủ nguyên liệu sản xuất, chi phí đã ứng trước cho nông dân mà không thu hồi được tương ứng với phần sản lượng bị bán ra ngoài. Điều 419 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 419. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm hợp đồng
- Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.
- Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.
- Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền.”
Kết luận pháp lý: Ông P và các hộ nông dân vi phạm hợp đồng liên kết đã ký, không thuộc trường hợp bất khả kháng hay miễn trách nhiệm, nên phải chịu phạt vi phạm theo thỏa thuận trong hợp đồng (nếu có, và không vượt mức trần luật định) và bồi thường thiệt hại thực tế, có căn cứ chứng minh, cho Công ty X. Tuy nhiên, Công ty X cũng cần chứng minh được mình đã thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ của bên mua theo hợp đồng (ứng vốn, hỗ trợ kỹ thuật, thu mua đúng tiến độ…); nếu công ty có phần lỗi hoặc chậm trễ thì mức bồi thường có thể được xem xét giảm trừ tương ứng theo nguyên tắc lỗi hỗn hợp trong pháp luật dân sự.
- Góc nhìn Tâm lý – Giáo dục – Quản trị – “Chìa khóa nhân văn”
Về khía cạnh tâm lý
Tâm lý của ông P và các hộ nông dân là tâm lý phổ biến của người sản xuất nhỏ lẻ: ưu tiên lợi ích kinh tế trước mắt, ngắn hạn, chưa nhận thức đầy đủ giá trị của việc giữ chữ tín trong quan hệ liên kết dài hạn. Đằng sau đó cũng là nỗi lo về sự bấp bênh của nghề nông – khi giá cả thị trường biến động khó lường, người nông dân có tâm lý sợ “mất cơ hội”, sợ bị thiệt nếu tuân thủ giá đã ký trong khi giá thị trường tăng cao. Về phía doanh nghiệp, việc bị phá vỡ cam kết đột ngột không chỉ gây thiệt hại kinh tế mà còn ảnh hưởng đến uy tín với đối tác quốc tế, tạo tâm lý dè dặt khi đầu tư dài hạn vào các mô hình liên kết nông nghiệp trong tương lai.
Về khía cạnh Giáo dục và Quản trị chuỗi liên kết
Vụ việc phản ánh một lỗ hổng phổ biến trong thiết kế hợp đồng liên kết tại Việt Nam: nhiều hợp đồng chỉ quy định giá sàn cố định mà thiếu cơ chế “chia sẻ lợi ích” khi giá thị trường tăng vượt ngưỡng dự kiến, khiến nông dân không có động lực giữ cam kết khi giá biến động mạnh. Đây là bài học quản trị rủi ro chuỗi cung ứng quan trọng: doanh nghiệp cần thiết kế hợp đồng linh hoạt hơn (ví dụ giá sàn bảo đảm kèm theo cơ chế thưởng theo tỷ lệ khi giá thị trường vượt mức trần thỏa thuận), đồng thời tăng cường vai trò của tổ hợp tác, hợp tác xã làm đầu mối giám sát sản lượng, thay vì chỉ ký hợp đồng phân tán với từng hộ dân riêng lẻ.
- Giải pháp toàn diện của Chuyên gia Nguyễn Hữu Long
Để xử lý vụ việc vừa đúng pháp luật, vừa không làm đổ vỡ hoàn toàn mối liên kết sản xuất – tiêu thụ vốn cần thời gian xây dựng, Chuyên gia Nguyễn Hữu Long đề xuất phương án 3 bước:
Bước 1 – Đối thoại, rà soát lại hợp đồng và xác định mức độ vi phạm: Công ty X cần làm việc trực tiếp với ông P và đại diện các hộ nông dân, cùng rà soát lại nội dung hợp đồng đã ký (có điều khoản phạt vi phạm hay không, mức phạt cụ thể, có điều khoản bất khả kháng hay chia sẻ rủi ro hay không), đồng thời xác định chính xác thiệt hại thực tế phát sinh (chi phí mua bù nguyên liệu, khoản lợi nhuận bị mất) làm căn cứ đàm phán.
Bước 2 – Áp dụng chế tài hợp lý, ưu tiên thương lượng theo Nghị định 98/2018/NĐ-CP: Trên cơ sở Điều 15 Nghị định 98/2018/NĐ-CP, hai bên nên ưu tiên thương lượng, hòa giải để thống nhất mức phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại hợp lý, có thể cho phép nông dân trả dần hoặc khấu trừ vào các đợt thu mua tiếp theo, thay vì đẩy vụ việc ra tòa ngay từ đầu, vừa tốn kém chi phí tố tụng vừa làm mất hoàn toàn niềm tin hợp tác giữa hai bên.
Bước 3 – Tái thiết kế hợp đồng liên kết bền vững hơn cho các vụ mùa sau: Công ty X nên chủ động điều chỉnh mẫu hợp đồng liên kết theo hướng bổ sung cơ chế giá linh hoạt (giá sàn bảo đảm kèm cơ chế chia sẻ một phần chênh lệch khi giá thị trường tăng vượt ngưỡng), quy định rõ ràng, cụ thể điều khoản phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại ngay từ đầu, đồng thời phối hợp với chính quyền xã Đ và Tổ hợp tác để tăng cường vai trò giám sát sản lượng, giúp mối liên kết sản xuất – tiêu thụ ớt phát triển ổn định, đôi bên cùng có lợi trong dài hạn.
Chữ tín trong hợp đồng liên kết nông nghiệp không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là nền tảng để xây dựng chuỗi giá trị nông sản bền vững. Xử lý nghiêm minh vi phạm là cần thiết, nhưng doanh nghiệp và nông dân cùng cần nhìn lại để thiết kế những cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro công bằng hơn, tránh lặp lại vòng luẩn quẩn “được giá phá hợp đồng, mất giá phá vỡ liên kết”.
GÓC NHÌN CHUYÊN GIA:
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc tương tự về hợp đồng liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

