THÔNG TƯ SỐ 51/2026/TT-BGDĐT – NHỮNG ĐIỂM MỚI CẦN BIẾT ĐỂ BẢO ĐẢM AN TOÀN, CHẤT LƯỢNG VÀ QUYỀN LỢI CỦA TRẺ EM TRONG GIÁO DỤC MẦM NON
I. VÌ SAO CỘNG ĐỒNG CẦN QUAN TÂM ĐẾN THÔNG TƯ 51/2026/TT-BGDĐT?
Ngày 30/6/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 51/2026/TT-BGDĐT, sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến Điều lệ trường mầm non; quy chế tổ chức, hoạt động của nhóm trẻ độc lập, lớp mẫu giáo độc lập, lớp mầm non độc lập dân lập và tư thục; đồng thời sửa đổi quy định về biên soạn, chỉnh sửa Chương trình giáo dục mầm non và tổ chức, hoạt động của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình.
Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/8/2026, vì vậy các cơ sở giáo dục mầm non, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, người lao động, cha mẹ trẻ và cộng đồng cần chủ động tìm hiểu để thực hiện đúng quy định.
Đây không đơn thuần là việc “sửa một số điều lệ trường học”. Điểm đáng chú ý hơn là Thông tư đang đặt ra yêu cầu đổi mới quản trị giáo dục mầm non theo hướng rõ trách nhiệm, gần cơ sở, tăng tính minh bạch và lấy sự phát triển của trẻ em làm trung tâm.
II. TÁM ĐIỂM QUAN TRỌNG NHẤT CỘNG ĐỒNG CẦN BIẾT
1. UBND cấp xã trở thành chủ thể quản lý nhà nước trực tiếp đối với trường mầm non
Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất nằm tại Điều 3 Thông tư 51/2026/TT-BGDĐT, sửa đổi Điều 6 của Điều lệ trường mầm non ban hành kèm theo Thông tư số 52/2020/TT-BGDĐT. Theo đó, trường mầm non do UBND cấp xã quản lý; Phòng Văn hóa – Xã hội tham mưu, giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục đối với các loại hình trường mầm non trên địa bàn.
Đây là thay đổi có ý nghĩa rất lớn về quản trị nhà nước.
Từ góc nhìn pháp lý, trách nhiệm quản lý được xác định gần hơn với địa bàn dân cư. Từ góc nhìn quản trị, chính quyền cấp xã có điều kiện nắm bắt trực tiếp hơn tình hình hoạt động của các cơ sở mầm non.
Điều này cũng có ý nghĩa quan trọng: khi phụ huynh phát hiện vấn đề liên quan đến chất lượng chăm sóc, giáo dục hoặc hoạt động của cơ sở mầm non, họ cần biết rõ cơ quan quản lý nhà nước ở đâu và ai có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý.
2. Nhà trường phải thể hiện rõ thông tin quản lý trên biển tên
Thông tư sửa đổi quy định về biển tên trường.
Theo Điều 2 Thông tư 51/2026/TT-BGDĐT, góc trên bên trái biển tên trường thể hiện UBND xã, phường, đặc khu trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tên xã; phía dưới phải có số quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, địa chỉ, số điện thoại, cổng thông tin điện tử và thư điện tử của trường.
Quy định này tưởng như mang tính kỹ thuật nhưng thực chất lại liên quan trực tiếp đến tính công khai và khả năng nhận diện cơ sở giáo dục hợp pháp.
Phụ huynh không nên chỉ quan tâm trường “có đẹp hay không”, học phí bao nhiêu, cơ sở vật chất thế nào mà cần quan tâm cả những thông tin pháp lý cơ bản: Ai cho phép thành lập? Cơ sở thuộc loại hình nào? Cơ quan nào quản lý? Địa chỉ và thông tin liên hệ chính thức là gì?
3. Hội đồng trường được xác định rõ hơn về chức năng quản trị
Đối với trường mầm non tư thục, khoản 3 Điều 4 Thông tư 51/2026/TT-BGDĐT quy định Hội đồng trường thực hiện chức năng quản trị, đại diện cho nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Hội đồng trường không trực tiếp thực hiện hoạt động quản lý, điều hành nhà trường.
Hội đồng trường có nhiệm kỳ 5 năm; số lượng thành viên là số lẻ, ít nhất 5 và không quá 15 người. Thành phần phải bảo đảm sự tham gia của đại diện nhà đầu tư, thành viên trong nhà trường và thành viên ngoài nhà trường theo quy định.
Đặc biệt, Hội đồng trường có trách nhiệm quyết nghị chiến lược, tầm nhìn, mục tiêu, kế hoạch phát triển; định hướng kế hoạch giáo dục; đồng thời giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản và thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường.
Thông điệp quản trị rất rõ: quản trị và điều hành phải được phân định; quyền hạn phải đi cùng trách nhiệm và cơ chế giám sát.
4. Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng có nhiệm kỳ 5 năm
Theo Điều 5 Thông tư 51/2026/TT-BGDĐT, nhiệm kỳ của hiệu trưởng là 05 năm; hiệu trưởng trường công lập giữ chức vụ tại một trường công lập không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp. Đối với phó hiệu trưởng, nhiệm kỳ cũng là 05 năm.
Quy định này đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ quản lý không chỉ là “giữ chức vụ”, mà phải liên tục chứng minh năng lực chuyên môn, năng lực quản lý và khả năng đáp ứng mục tiêu giáo dục.
Đáng chú ý, Thông tư cũng nhấn mạnh trách nhiệm tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực quản lý.
5. Quản lý chuyên môn tại cơ sở mầm non độc lập được quy định rõ hơn
Theo Điều 8 Thông tư 51/2026/TT-BGDĐT, người quản lý chuyên môn tại cơ sở giáo dục mầm non độc lập do chủ cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng lao động và thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ.
Đáng chú ý, chủ cơ sở có thể kiêm nhiệm người quản lý chuyên môn nếu đủ tiêu chuẩn theo quy định.
Quy định này giúp xác định rõ hơn ai là người chịu trách nhiệm chuyên môn, hạn chế tình trạng trách nhiệm bị phân tán hoặc không rõ người chịu trách nhiệm khi xảy ra vấn đề trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
6. Các cơ sở mầm non độc lập quy mô tối đa 07 trẻ phải đặc biệt lưu ý
Đây là một trong những quy định có tác động trực tiếp đến cộng đồng.
Theo Điều 15 Thông tư 51/2026/TT-BGDĐT, trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực, các cơ sở giáo dục mầm non độc lập có quy mô tối đa 07 trẻ phải chấm dứt hoạt động theo quy định.
Như vậy, các cá nhân, tổ chức đang tổ chức mô hình thuộc diện này không nên chờ đến sát thời hạn mới xử lý.
Cần chủ động rà soát:
- Tư cách pháp lý của cơ sở;
- Mô hình tổ chức đang hoạt động;
- Quy mô trẻ;
- Điều kiện về người quản lý chuyên môn;
- Điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục;
- Trách nhiệm đối với trẻ và phụ huynh khi chấm dứt hoạt động.
Đặc biệt, chấm dứt hoạt động không đồng nghĩa với việc chấm dứt trách nhiệm đối với những vấn đề đã phát sinh trong quá trình hoạt động.
7. Chương trình giáo dục mầm non phải chú trọng phẩm chất, năng lực và tâm sinh lý trẻ
Theo Điều 11 và Điều 12 Thông tư 51/2026/TT-BGDĐT, chương trình giáo dục mầm non phải quy định mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực sau khi hoàn thành giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo; đồng thời những yêu cầu này phải cụ thể hóa mục tiêu chương trình, bảo đảm tính khoa học và phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ em.
Đây là điểm mà cộng đồng cần đặc biệt quan tâm. Giáo dục mầm non không thể được đánh giá đơn thuần bằng việc trẻ “biết thêm bao nhiêu chữ, làm được bao nhiêu phép tính”. Ở lứa tuổi này, sự phát triển cảm xúc, khả năng giao tiếp, kỹ năng xã hội, tính tự lập, sự tự tin và cảm giác an toàn của trẻ cũng là những giá trị giáo dục cốt lõi.
Pháp luật khi yêu cầu chương trình phải phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ chính là đang đặt ra một “hàng rào pháp lý” để chống lại tư duy giáo dục quá tải, áp đặt hoặc không phù hợp với lứa tuổi.
8. Tăng trách nhiệm kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình
Theo quy định tại điểm k khoản 3 Điều 4 Thông tư 51/2026/TT-BGDĐT sửa đổi khoản 3 Điều 9 Thông tư 52/2020/TT-BGDĐT, cơ quan quản lý giáo dục có thẩm quyền kiểm tra việc thành lập, kiện toàn và hoạt động của Hội đồng trường; có quyền yêu cầu nhà trường báo cáo, giải trình và cung cấp thông tin, hồ sơ phục vụ quản lý nhà nước. Khi phát hiện vi phạm thì yêu cầu khắc phục theo quy định.
Theo quy định tại Điều 9 Thông tư 51/2026/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung Điều 21 Thông tư 49/2021/TT-BGDĐT Đối với cơ sở mầm non độc lập, Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, tổng hợp và báo cáo việc thực hiện Thông tư theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Điều này cho thấy xu hướng quản trị đang chuyển mạnh theo hướng:
Có quyền → phải có trách nhiệm; có trách nhiệm → phải có khả năng giải trình; có giải trình → phải chịu sự kiểm tra, giám sát.
III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ: LẤY TRẺ EM LÀM TRUNG TÂM, LẤY TRÁCH NHIỆM LÀM NỀN TẢNG
Dưới góc nhìn tích hợp pháp lý – tâm lý – giáo dục – quản trị, Thông tư số 51/2026/TT-BGDĐT không chỉ là văn bản sửa đổi, bổ sung một số quy định kỹ thuật về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục mầm non. Quan trọng hơn, các quy định mới đặt ra yêu cầu thay đổi cách thức quản trị nhà trường, xác lập rõ hơn trách nhiệm của các chủ thể và hướng hoạt động giáo dục đến mục tiêu bảo đảm sự phát triển toàn diện, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em. Đặc biệt, chương trình giáo dục mầm non phải xác định yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực và bảo đảm tính khoa học, phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ.
1. Góc nhìn tâm lý: Mọi chính sách giáo dục cuối cùng phải hướng đến sự an toàn và phát triển của trẻ
Trẻ em ở lứa tuổi mầm non chưa có đầy đủ khả năng nhận thức, tự bảo vệ và tự lên tiếng để bảo vệ quyền lợi của mình. Vì vậy, môi trường giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách, cảm xúc và hành vi của trẻ.
Từ góc độ tâm lý, một môi trường giáo dục tốt không chỉ là nơi trẻ được ăn, ngủ, học tập và vui chơi đầy đủ, mà còn phải là nơi trẻ cảm thấy an toàn, được tôn trọng và được lắng nghe.
Việc Thông tư 51/2026/TT-BGDĐT yêu cầu chương trình giáo dục phải bảo đảm sự phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ là một điểm có ý nghĩa đặc biệt.
Điều đó đặt ra yêu cầu đối với nhà trường và giáo viên: không nên biến giáo dục mầm non thành quá trình chạy đua thành tích hoặc áp đặt kiến thức vượt quá khả năng phát triển của trẻ.
Một đứa trẻ phát triển tốt không nhất thiết là đứa trẻ biết nhiều nhất, mà là đứa trẻ có khả năng khám phá, giao tiếp, hình thành cảm xúc tích cực và từng bước phát triển năng lực của chính mình.
Vì vậy, khi đánh giá chất lượng giáo dục mầm non, cần nhìn cả những yếu tố khó đo đếm bằng điểm số như cảm giác an toàn, sự tự tin, khả năng giao tiếp, tính tự lập và sự phát triển cảm xúc – xã hội của trẻ.
2. Góc nhìn giáo dục: Không chạy theo “dạy trước”, mà phải tôn trọng quy luật phát triển của trẻ
Thông tư quy định chương trình giáo dục mầm non phải thể hiện mục tiêu tổng thể và mục tiêu của từng giai đoạn; quy định nội dung, hoạt động, phương pháp, hình thức, môi trường giáo dục và đánh giá sự phát triển của trẻ em.
Đặc biệt, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực phải cụ thể hóa mục tiêu chương trình, bảo đảm tính khoa học và phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ em.
Từ đây cần thay đổi một nhận thức phổ biến: giáo dục mầm non không phải là cuộc thi xem trẻ nào biết đọc sớm hơn, viết nhanh hơn hay ghi nhớ được nhiều hơn.
Nếu người lớn đặt áp lực thành tích lên trẻ quá sớm, việc học có thể trở thành nguồn gây căng thẳng thay vì tạo ra niềm vui khám phá.
Giáo dục đúng nghĩa phải giúp trẻ hình thành nền tảng để tiếp tục học tập trong tương lai. Vì vậy, việc phát triển phẩm chất, năng lực, kỹ năng giao tiếp, khả năng tự phục vụ, hợp tác và thích ứng cần được nhìn nhận có giá trị không kém việc truyền đạt kiến thức.
3. Góc nhìn quản trị: Phải phân định rõ “quản trị” và “điều hành”
Một điểm đáng chú ý của Thông tư là việc quy định rõ hơn chức năng của Hội đồng trường tại trường mầm non tư thục.
Theo quy định mới, Hội đồng trường thực hiện chức năng quản trị, đại diện cho nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên quan; quyết nghị các định hướng, chiến lược phát triển và các vấn đề về tổ chức hoạt động của nhà trường, đồng thời không trực tiếp thực hiện hoạt động quản lý, điều hành nhà trường.
Đây là nguyên tắc rất quan trọng trong quản trị giáo dục.
Hội đồng trường phải làm tốt chức năng quyết nghị và giám sát; hiệu trưởng phải chịu trách nhiệm điều hành; giáo viên phải thực hiện nhiệm vụ chuyên môn; cơ quan quản lý nhà nước phải thực hiện chức năng quản lý, kiểm tra theo thẩm quyền.
Khi ranh giới trách nhiệm được xác định rõ, sẽ hạn chế tình trạng “nhiều người có quyền nhưng không rõ ai chịu trách nhiệm”.
Đặc biệt, Hội đồng trường còn có nhiệm vụ giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản và việc thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường.
Đây chính là nền tảng để xây dựng một môi trường giáo dục minh bạch và có trách nhiệm giải trình.
4. Quản trị tốt phải đi cùng trách nhiệm giải trình
Một hệ thống quản trị hiện đại không chỉ đặt ra quyền hạn mà phải đồng thời xác định cơ chế kiểm tra và trách nhiệm giải trình.
Thông tư quy định cơ quan quản lý giáo dục có thẩm quyền được kiểm tra việc thành lập, kiện toàn và hoạt động của Hội đồng trường; yêu cầu nhà trường báo cáo, giải trình và cung cấp thông tin, hồ sơ phục vụ công tác quản lý nhà nước. Khi phát hiện vi phạm, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu khắc phục theo quy định.
Từ góc độ quản trị, đây là nguyên tắc: Có quyền phải có trách nhiệm; có trách nhiệm phải có khả năng giải trình; có giải trình phải có kiểm tra và giám sát.
Đối với nhà trường, trách nhiệm giải trình không nên được hiểu là một gánh nặng hành chính, mà phải được coi là công cụ xây dựng niềm tin với phụ huynh, giáo viên và xã hội.
5. Góc nhìn cộng đồng: Phụ huynh không chỉ là “người đóng học phí”
Một nền giáo dục lành mạnh cần sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội.
Khi nhà trường được yêu cầu công khai, minh bạch hơn về tổ chức, quản trị và trách nhiệm, phụ huynh cũng cần chuyển từ tâm thế “gửi con và phó mặc” sang đồng hành có trách nhiệm với nhà trường.
Phụ huynh cần quan tâm đến:
- Cơ sở giáo dục có hoạt động đúng quy định hay không;
- Ai là người chịu trách nhiệm quản lý và chuyên môn;
- Môi trường giáo dục có an toàn cho trẻ hay không;
- Chương trình giáo dục có phù hợp với lứa tuổi hay không;
- Khi phát sinh vấn đề, cơ chế phản ánh và giải quyết được thực hiện như thế nào.
Sự tham gia có trách nhiệm của phụ huynh không nhằm tạo áp lực cho giáo viên, mà nhằm xây dựng mối quan hệ hợp tác và niềm tin giữa gia đình với nhà trường.
6. Một điểm cần đặc biệt lưu ý: Quản lý cơ sở mầm non phải gắn với trách nhiệm bảo vệ trẻ
Thông tư quy định người quản lý chuyên môn tại cơ sở giáo dục mầm non độc lập thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ; chủ cơ sở có thể kiêm nhiệm người quản lý chuyên môn nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn.
Quy định này có ý nghĩa thực tế rất lớn. Bởi trong giáo dục mầm non, “chuyên môn” không thể tách rời khỏi sự an toàn và phát triển của trẻ.Người chịu trách nhiệm chuyên môn cần hiểu rằng mỗi quyết định về tổ chức lớp học, chăm sóc, nuôi dưỡng, hoạt động giáo dục hay xử lý tình huống đều có thể tác động trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tâm lý của trẻ.
Do đó, năng lực quản lý chuyên môn phải được đặt song song với năng lực nhận diện rủi ro, phòng ngừa và xử lý các tình huống ảnh hưởng đến trẻ em.
IV. KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN THÔNG TƯ 51/2026/TT-BGDĐT: TỪ TUÂN THỦ PHÁP LUẬT ĐẾN XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC AN TOÀN
Thông tư số 51/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 15/8/2026 và đặt ra trách nhiệm tổ chức thực hiện đối với các cơ quan quản lý, cơ sở giáo dục và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Vì vậy, theo góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long, việc triển khai Thông tư cần được thực hiện theo hướng chủ động phòng ngừa, rõ trách nhiệm, tăng tính minh bạch và lấy quyền lợi, sự an toàn, sự phát triển của trẻ em làm trung tâm.
1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Phải chuyển từ “quản lý hành chính” sang “quản trị trách nhiệm”
Việc Thông tư quy định trường mầm non do UBND cấp xã quản lý, với Phòng Văn hóa – Xã hội tham mưu, giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục, đòi hỏi chính quyền cơ sở phải chủ động nâng cao năng lực quản lý giáo dục mầm non.
Theo đó, cần tập trung vào ba yêu cầu:
- Một là, quản lý phải sát địa bàn. Cơ quan quản lý cần nắm được số lượng, loại hình, tình trạng pháp lý và thực tế hoạt động của các cơ sở mầm non trên địa bàn.
- Hai là, kiểm tra phải có trọng tâm. Không nên chỉ tập trung vào hồ sơ mà cần quan tâm đến chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và môi trường thực tế của trẻ.
- Ba là, phải tăng trách nhiệm giải trình. Khi có vấn đề phát sinh, cần xác định rõ cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý và phản hồi.
Đây là điều đặc biệt quan trọng bởi một hệ thống pháp luật dù đầy đủ nhưng nếu thiếu cơ chế thực thi hiệu quả thì quyền lợi của trẻ em vẫn có nguy cơ bị bỏ ngỏ.
2. Đối với các trường mầm non: Chủ động rà soát toàn bộ hệ thống quản trị
Các trường cần thực hiện rà soát ngay trước và sau thời điểm Thông tư có hiệu lực, đặc biệt đối với cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng trường.
Đối với trường mầm non tư thục, Hội đồng trường có chức năng quản trị, quyết nghị về chiến lược, định hướng phát triển, tổ chức hoạt động và giám sát việc quản lý tài chính, tài sản, thực hiện quy chế dân chủ. Hội đồng trường không trực tiếp điều hành hoạt động hằng ngày của nhà trường.
Do đó, các trường cần tránh tình trạng “Hội đồng trường có tên nhưng không có thực quyền” hoặc ngược lại, Hội đồng trường can thiệp quá sâu vào hoạt động điều hành chuyên môn.
Quản trị tốt phải bảo đảm ba yếu tố:
Đúng thẩm quyền – rõ trách nhiệm – có kiểm soát.
3. Đối với người đứng đầu cơ sở giáo dục: Quyền hạn phải đi cùng trách nhiệm
Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và người quản lý chuyên môn cần nhận thức rằng việc được trao quyền quản lý đồng nghĩa với việc phải chịu trách nhiệm đối với chất lượng hoạt động thuộc phạm vi được giao.
Thông tư số 51/2026/TT-BGDĐT quy định nhiệm kỳ của hiệu trưởng và phó hiệu trưởng là 05 năm, đồng thời yêu cầu thực hiện việc tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực quản lý.
Vì vậy, cần xây dựng văn hóa quản lý trong đó người đứng đầu:
- Không chỉ quản lý con người mà phải quản lý rủi ro;
- Không chỉ xử lý sự cố mà phải chủ động phòng ngừa;
- Không chỉ yêu cầu giáo viên tuân thủ mà phải tạo điều kiện để giáo viên thực hiện đúng;
- Không chỉ chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý mà còn phải có trách nhiệm đối với trẻ em và phụ huynh.
Một người quản lý giáo dục giỏi không phải là người khiến cấp dưới sợ mình, mà là người khiến cả hệ thống vận hành an toàn ngay cả khi mình không có mặt.
4. Đối với cơ sở mầm non độc lập: Cần đặc biệt chú trọng trách nhiệm chuyên môn
Thông tư số 51/2026/TT-BGDĐT quy định người quản lý chuyên môn tại cơ sở giáo dục mầm non độc lập chịu trách nhiệm quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ; chủ cơ sở có thể kiêm nhiệm vị trí này nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn.
Do đó, các cơ sở mầm non độc lập cần rà soát ngay:
- Người đang thực hiện trách nhiệm quản lý chuyên môn;
- Điều kiện, tiêu chuẩn của người quản lý;
- Nội dung thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
- Quy trình tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ;
- Hồ sơ chứng minh việc thực hiện trách nhiệm chuyên môn.
Đặc biệt, không nên coi đây chỉ là yêu cầu về “hồ sơ”. Người quản lý chuyên môn phải thực sự có năng lực nhận diện và xử lý những nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, sự an toàn và tâm lý của trẻ.
5. Đối với các cơ sở có quy mô tối đa 07 trẻ: Cần chủ động phương án chuyển đổi
Một vấn đề cần được đặc biệt lưu ý là quy định chuyển tiếp tại Điều 15 Thông tư số 51/2026/TT-BGDĐT, trong thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực, các cơ sở giáo dục mầm non độc lập có quy mô tối đa 07 trẻ phải chấm dứt hoạt động theo quy định.
Đối với các cơ sở thuộc diện này, việc chấm dứt hoạt động cần được thực hiện có trách nhiệm, tránh gây xáo trộn đột ngột đối với trẻ và gia đình.
Theo góc nhìn tâm lý – giáo dục, cần đặc biệt quan tâm đến quá trình chuyển tiếp của trẻ. Trẻ nhỏ có thể hình thành sự gắn bó với cô giáo, bạn bè và môi trường quen thuộc. Vì vậy, nếu phải chuyển sang cơ sở khác, gia đình và cơ sở giáo dục cần có sự trao đổi phù hợp để hạn chế cảm giác bất an, sợ hãi hoặc đứt gãy tâm lý ở trẻ.
6. Đối với giáo viên: Tuân thủ pháp luật phải gắn với đạo đức nghề nghiệp
Thông tư tiếp tục nhấn mạnh trách nhiệm tự học, tự bồi dưỡng và nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ quản lý và nhà giáo.
Tuy nhiên, trong giáo dục mầm non, chuyên môn không thể tách rời đạo đức nghề nghiệp.
Giáo viên cần: Tôn trọng trẻ – kiên nhẫn với trẻ – không áp đặt trẻ – không làm tổn thương trẻ – phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường về tâm lý và sức khỏe của trẻ.
Một hành vi tưởng như nhỏ đối với người lớn có thể trở thành một trải nghiệm rất lớn trong ký ức của trẻ.
Do đó, tuân thủ pháp luật không chỉ là tránh hành vi bị cấm mà còn là chủ động tạo dựng môi trường giáo dục tích cực và nhân văn.
7. Đối với cha mẹ: Hãy trở thành “đối tác giáo dục” của nhà trường
Cha mẹ cần chủ động tìm hiểu quy định pháp luật và thông tin về cơ sở giáo dục nơi con đang theo học. Đặc biệt, cần biết:
- Cơ sở có được thành lập, cho phép hoạt động theo quy định hay không;
- Cơ quan nào quản lý cơ sở;
- Ai chịu trách nhiệm quản lý, điều hành và chuyên môn;
- Nhà trường có cơ chế tiếp nhận phản ánh, kiến nghị như thế nào;
- Môi trường giáo dục có phù hợp với độ tuổi và tâm lý của trẻ hay không.
Khi phát hiện vấn đề, phụ huynh nên phản ánh bằng thái độ bình tĩnh, có căn cứ, có chứng cứ và đúng kênh thay vì lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng trên mạng xã hội. Điều này vừa bảo vệ quyền lợi của trẻ, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người làm giáo dục.
8. Cần xây dựng cơ chế phối hợp “Nhà nước – Nhà trường – Gia đình – Cộng đồng”
Giáo dục mầm non không thể được bảo đảm chỉ bằng nỗ lực của nhà trường. Cơ quan quản lý nhà nước phải tạo hành lang pháp lý và kiểm tra việc thực hiện.
Nhà trường phải tổ chức hoạt động giáo dục đúng quy định. Giáo viên phải thực hiện trách nhiệm chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Cha mẹ phải đồng hành và giám sát phù hợp. Cộng đồng phải có trách nhiệm lên tiếng trước những hành vi có nguy cơ ảnh hưởng đến trẻ.
Đây chính là mô hình quản trị giáo dục dựa trên trách nhiệm xã hội, trong đó mỗi chủ thể đều có vị trí và trách nhiệm riêng nhưng cùng hướng đến một mục tiêu chung: bảo vệ và phát triển trẻ em.
Thông điệp nhân văn: “Một nền giáo dục tốt không bắt đầu từ những tòa nhà lớn, mà bắt đầu từ việc mỗi đứa trẻ cảm thấy mình được an toàn, được yêu thương và được tôn trọng. Pháp luật chỉ thực sự có ý nghĩa khi những quy định trên giấy trở thành hành động cụ thể để bảo vệ trẻ em mỗi ngày. Thông tư 51/2026/TT-BGDĐT vì thế cần được nhìn nhận không chỉ là một văn bản sửa đổi quy định quản lý giáo dục mầm non, mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm của nhà trường, gia đình và toàn xã hội đối với những năm tháng đầu đời của mỗi con người.”
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

