THỰC HÀNH VÀ CẬP NHẬT KIẾN THỨC CÔNG TÁC XÃ HỘI THEO THÔNG TƯ 29/2026/TT-BYT CỦA BỘ Y TẾ: CHUYÊN NGHIỆP HÓA NGƯỜI HÀNH NGHỀ – BẢO VỆ ĐỐI TƯỢNG YẾU THẾ – NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG AN SINH XÃ HỘI

THỰC HÀNH VÀ CẬP NHẬT KIẾN THỨC CÔNG TÁC XÃ HỘI THEO THÔNG TƯ 29/2026/TT-BYT CỦA BỘ Y TẾ: CHUYÊN NGHIỆP HÓA NGƯỜI HÀNH NGHỀ – BẢO VỆ ĐỐI TƯỢNG YẾU THẾ – NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG AN SINH XÃ HỘI

Góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long
Chuyên gia Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục
Giám đốc Trung tâm Tư vấn Pháp luật thuộc Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục tỉnh Quảng Trị

Công tác xã hội không đơn thuần là hoạt động thiện nguyện hay sự hỗ trợ mang tính tình thế. Trong một xã hội hiện đại, đây là lĩnh vực nghề nghiệp đòi hỏi người hành nghề phải có kiến thức pháp luật, chuyên môn, đạo đức, kỹ năng giao tiếp, tham vấn, hỗ trợ tâm lý, quản lý trường hợp, kết nối nguồn lực và đặc biệt là khả năng bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của những người đang cần được trợ giúp.

Thông tư 29/2026/TT-BYT của Bộ Y tế về thực hành công tác xã hội và cập nhật kiến thức công tác xã hội tiếp tục cụ thể hóa Nghị định số 110/2024/NĐ-CP về công tác xã hội, tập trung vào ba nhóm vấn đề: thực hành công tác xã hội; cập nhật kiến thức công tác xã hội; và xây dựng khung chương trình đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức công tác xã hội. Đối tượng áp dụng bao gồm cơ sở thực hành, cơ sở cập nhật kiến thức, người thực hành, người hành nghề công tác xã hội và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Dưới góc nhìn tích hợp Pháp lý – Tâm lý – Giáo dục, ThS. Nguyễn Hữu Long cho rằng những quy định này có ý nghĩa đáng chú ý trong quá trình từng bước chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa nghề công tác xã hội, đồng thời hướng tới mục tiêu quan trọng hơn: bảo đảm người cần trợ giúp xã hội được tiếp cận dịch vụ an toàn, có chất lượng và có trách nhiệm.

I. TỪ “LÀM CÔNG TÁC XÃ HỘI” ĐẾN “HÀNH NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI” – YÊU CẦU TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH CHUYÊN NGHIỆP HÓA

Trong đời sống cộng đồng, công tác xã hội có mặt ở nhiều môi trường khác nhau: cơ sở trợ giúp xã hội, bệnh viện, trường học, cộng đồng và những nơi cung cấp dịch vụ hỗ trợ con người. Đối tượng được trợ giúp có thể là trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người gặp khó khăn về kinh tế – xã hội, người bị bạo lực, người gặp khủng hoảng tâm lý hoặc các nhóm cần được hỗ trợ đặc biệt. Điểm chung của những trường hợp này là họ thường đang ở trạng thái dễ bị tổn thương. Chính vì vậy, một sai sót của người hành nghề đôi khi không chỉ là sai sót chuyên môn mà còn có thể tác động trực tiếp đến tâm lý, danh dự, đời sống riêng tư và quyền lợi của đối tượng.

Theo quan điểm của ThS. Nguyễn Hữu Long:

“Lòng nhân ái là nền tảng của công tác xã hội, nhưng lòng nhân ái không thể thay thế kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và trách nhiệm pháp lý. Muốn giúp một con người đúng cách, trước hết người giúp đỡ phải được đào tạo, thực hành và biết giới hạn nghề nghiệp của mình.”

Tinh thần này được thể hiện khá rõ trong Thông tư khi nội dung thực hành không chỉ giới hạn ở kiến thức lý thuyết mà bao gồm đạo đức nghề nghiệp; năng lực, trình độ chuyên môn; kỹ năng thực hành; kỹ năng truyền thông, vận động nguồn lực, kết nối; và kỹ năng phối hợp trong hoạt động công tác xã hội.

Đáng chú ý, Phụ lục 01 còn cụ thể hóa quá trình thực hành thành nhiều kỹ năng thực tế: giao tiếp với đối tượng; tiếp nhận và thu thập thông tin; đánh giá nhu cầu trợ giúp; xây dựng và triển khai kế hoạch trợ giúp; theo dõi, đánh giá, điều chỉnh kế hoạch; kết thúc trợ giúp và lưu trữ hồ sơ.

Đây chính là bước chuyển quan trọng từ tư duy “có lòng tốt là có thể giúp” sang tư duy “muốn cung cấp dịch vụ xã hội có chất lượng phải có năng lực nghề nghiệp tương xứng”.

II. NHỮNG QUY ĐỊNH QUAN TRỌNG NGƯỜI DÂN VÀ NGƯỜI HÀNH NGHỀ CẦN BIẾT

1. Thời gian thực hành được quy định cụ thể theo từng trình độ

Một trong những nội dung đáng chú ý nhất nằm tại Điều 4.

Theo đó:

  • Người có trình độ đại học trở lên: thực hành từ đủ 12 tháng, tương ứng 800 giờ;
  • Trình độ cao đẳng: từ đủ 09 tháng, tương ứng 650 giờ;
  • Trình độ trung cấp: từ đủ 06 tháng, tương ứng 500 giờ.

Điểm đáng lưu ý là pháp luật không cứng nhắc yêu cầu toàn bộ thời gian này phải diễn ra trong giờ hành chính. Cơ sở và người thực hành có thể thỏa thuận sắp xếp thời gian hợp lý, miễn bảo đảm đủ nội dung và thời lượng thực hành.

Quy định này vừa đặt ra chuẩn tối thiểu về kinh nghiệm thực tế, vừa tạo độ linh hoạt cần thiết cho người học và cơ sở thực hành.

10 buổi tập huấn cũng được tính vào thời gian thực hành

Trong quá trình thực hành, người thực hành được tham gia tập huấn về pháp luật công tác xã hội, an sinh xã hội, chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, giao tiếp và ứng xử với tổng thời lượng 10 buổi, mỗi buổi 04 tiết. Thời gian này được tính vào tổng thời gian thực hành nếu người thực hành cung cấp được tài liệu minh chứng.

Đây là điểm có ý nghĩa giáo dục rất rõ: thực hành nghề nghiệp phải song hành với giáo dục pháp luật và đạo đức nghề nghiệp.

2. Nội dung thực hành không chỉ là “làm việc”, mà phải hình thành năng lực nghề nghiệp

Theo Điều 3 và Phụ lục 01 Thông tư 29/2026/TT-BYT, quá trình thực hành phải hướng tới năm nhóm năng lực lớn:

Đạo đức nghề nghiệp – chuyên môn – kỹ năng thực hành – truyền thông và kết nối nguồn lực – phối hợp thực hiện công tác xã hội.

Đối với trình độ đại học trở lên, yêu cầu còn bao gồm các năng lực như chủ trì, phối hợp; hướng dẫn nghiệp vụ; nhận biết nhu cầu trợ giúp; nghiên cứu khoa học; phòng ngừa, can thiệp, trị liệu, chăm sóc, phục hồi, tư vấn, tham vấn và hỗ trợ tâm lý.

Theo ThS. Nguyễn Hữu Long, đây là một điểm cần đặc biệt nhấn mạnh khi phổ biến pháp luật:

Công tác xã hội là nghề làm việc trực tiếp với con người, vì vậy năng lực nghề nghiệp phải được hình thành thông qua trải nghiệm thực tế có hướng dẫn, chứ không thể chỉ được xác nhận bằng văn bằng.

3. Cơ sở thực hành phải chủ động lập và công khai kế hoạch

Theo Điều 5, cơ sở thực hành căn cứ nhu cầu và khả năng tiếp nhận để xây dựng kế hoạch hướng dẫn thực hành trước ngày 15/01 hằng năm. Kế hoạch phải thể hiện số lượng người có thể tiếp nhận, số lượng và danh sách người hướng dẫn; đồng thời phải gửi cơ quan chuyên môn về y tế thuộc UBND cấp tỉnh trước ngày 01/02 hằng năm để tổng hợp, theo dõi, quản lý và phải công khai trên trang thông tin điện tử của cơ sở nếu có.

Quy định này góp phần đưa hoạt động thực hành ra khỏi tình trạng tự phát, đồng thời tăng tính minh bạch và trách nhiệm của cơ sở tiếp nhận.

4. Không được tự ý cung cấp dịch vụ cho đối tượng

Đây có thể xem là một trong những quy định có ý nghĩa bảo vệ con người rõ nét nhất.

Người thực hành phải tuân thủ nội quy, quy chế và hướng dẫn; phải bảo đảm an toàn, giữ bí mật thông tin của đối tượng và cơ sở thực hành. Đặc biệt, người thực hành không được tự ý thực hiện hoạt động chuyên môn cung cấp dịch vụ công tác xã hội khi chưa được người hướng dẫn cho phép, trừ trường hợp khẩn cấp nhằm bảo đảm an toàn, bí mật thông tin của đối tượng. Từ góc độ tâm lý, quy định này rất quan trọng.

Người đang gặp khủng hoảng, trẻ em bị tổn thương, nạn nhân bạo lực hoặc người đang gặp khó khăn tâm lý có thể chịu hậu quả lớn nếu việc tham vấn hoặc can thiệp được tiến hành thiếu chuyên môn. Vì thế, nguyên tắc phải là:

“Muốn giúp – nhưng phải giúp đúng chuyên môn, đúng thẩm quyền và đúng giới hạn nghề nghiệp.”

III. CẬP NHẬT KIẾN THỨC – KHÔNG ĐỂ NGƯỜI HÀNH NGHỀ “DỪNG LẠI” SAU KHI ĐƯỢC ĐÀO TẠO

Một điểm tiến bộ của Thông tư là đặt trọng tâm vào học tập nghề nghiệp liên tục.

Phụ lục 02 xác định sáu nhóm nội dung cần cập nhật, gồm pháp luật, chính sách và đạo đức nghề nghiệp; kiến thức chuyên môn; kỹ năng hành nghề; quy trình cung cấp dịch vụ; ứng dụng công nghệ số; và những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn công tác xã hội. Đáng chú ý, nội dung cập nhật về công nghệ số đã đề cập đến hồ sơ điện tử, trí tuệ nhân tạo và nền tảng trực tuyến, đồng thời gắn việc ứng dụng công nghệ với yêu cầu bảo đảm an toàn dữ liệu và đạo đức nghề nghiệp. Đây là một định hướng rất đáng quan tâm. Trong thời đại AI và dữ liệu lớn, nhân viên công tác xã hội có thể sử dụng công nghệ để quản lý hồ sơ, kết nối nguồn lực và hỗ trợ hoạt động nghề nghiệp. Tuy nhiên, thông tin mà họ nắm giữ thường thuộc nhóm thông tin rất riêng tư của con người.

Bởi vậy, theo góc nhìn của ThS. Nguyễn Hữu Long:

Chuyển đổi số trong công tác xã hội phải đi cùng đạo đức số. Công nghệ càng mạnh thì trách nhiệm bảo vệ con người, dữ liệu cá nhân và bí mật của đối tượng càng phải cao.

Hình thức cập nhật kiến thức rất đa dạng Thông tư không bó hẹp việc cập nhật kiến thức trong lớp học truyền thống. Người hành nghề có thể được ghi nhận thông qua nhiều hoạt động như khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn; hội nghị, hội thảo, tọa đàm; biên soạn giáo trình và tài liệu chuyên môn; nghiên cứu khoa học; giảng dạy; hướng dẫn luận văn, luận án hoặc tham gia hội đồng chuyên môn.

Các hoạt động này được quy đổi thành giờ tín chỉ theo Phụ lục 04. 

Chẳng hạn, chủ trì/thư ký nhiệm vụ khoa học hoặc sáng kiến được tính 16 giờ tín chỉ; thành viên tham gia được tính 8 giờ; tác giả thứ nhất hoặc tác giả liên hệ của bài báo khoa học quốc tế được tính 12 giờ; và một tiết giảng dạy phù hợp được quy đổi thành 1,5 giờ tín chỉ.

Điều đó thể hiện cách tiếp cận khá thực chất: học tập suốt đời không chỉ diễn ra trong lớp học mà còn thông qua nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động chuyên môn.

IV. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – TÂM LÝ – GIÁO DỤC CỦA ThS. NGUYỄN HỮU LONG

Thứ nhất, dưới góc độ pháp lý: từng bước chuẩn hóa trách nhiệm nghề nghiệp

Thông tư làm rõ hơn các yêu cầu về nội dung thực hành, thời gian, người hướng dẫn, kế hoạch thực hành, cập nhật kiến thức, chứng nhận và trách nhiệm của cơ sở. Đặc biệt, cơ sở cập nhật kiến thức phải xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí, tạo điều kiện cho người hành nghề học tập; quản lý, xác nhận và tính giờ tín chỉ; chịu trách nhiệm về chất lượng hoạt động cập nhật kiến thức và lưu trữ hồ sơ liên quan. Như vậy, trách nhiệm không chỉ đặt lên vai người hành nghề mà còn được phân bổ cho cơ sở đào tạo, cơ sở thực hành, cơ sở cập nhật kiến thức và cơ quan quản lý.

Thứ hai, dưới góc độ tâm lý: bảo vệ người yếu thế phải bắt đầu từ năng lực của người trợ giúp

Người làm công tác xã hội thường tiếp xúc với những câu chuyện nhạy cảm nhất của con người. Một lời nói thiếu cân nhắc có thể làm tổn thương thêm một trẻ em đang gặp sang chấn. Một hành vi tiết lộ thông tin có thể xâm phạm đời tư của nạn nhân. Một phương pháp tham vấn không phù hợp có thể làm trầm trọng thêm trạng thái tâm lý của người đang cần hỗ trợ. Vì thế, yêu cầu bảo đảm an toàn, giữ bí mật thông tin và không tự ý thực hiện hoạt động chuyên môn khi chưa được người hướng dẫn cho phép không nên được nhìn nhận đơn thuần như những nghĩa vụ hành chính. Đó chính là hàng rào bảo vệ đối tượng được trợ giúp.

Thứ ba, dưới góc độ giáo dục: nghề nghiệp phải gắn với học tập suốt đời

Một tấm bằng có thể chứng minh quá trình đào tạo, nhưng không bảo đảm rằng kiến thức của người hành nghề sẽ luôn phù hợp với những vấn đề xã hội mới. Bạo lực trên không gian mạng, sức khỏe tinh thần, già hóa dân số, công nghệ AI, dữ liệu cá nhân và những mô hình trợ giúp xã hội mới đang đặt ra các yêu cầu mà chương trình đào tạo của nhiều năm trước có thể chưa dự liệu đầy đủ. Bởi vậy, việc Thông tư đặt “các vấn đề mới về công tác xã hội trong thực tiễn” thành một nhóm nội dung cập nhật riêng có ý nghĩa thúc đẩy văn hóa học tập liên tục trong nghề.

Thứ tư, dưới góc độ quản trị: tăng minh bạch và trách nhiệm giải trình

Sau khi cấp giấy xác nhận quá trình thực hành, trong thời hạn 03 ngày làm việc, cơ sở thực hành phải gửi danh sách đến cơ quan chuyên môn về y tế thuộc UBND cấp tỉnh để theo dõi, quản lý; đồng thời công khai các thông tin theo quy định trên trang thông tin điện tử của cơ sở. Cách thiết kế này góp phần hạn chế nguy cơ xác nhận thực hành mang tính hình thức, đồng thời tạo cơ sở cho cơ quan quản lý theo dõi hoạt động thực hành nghề nghiệp.

V. NHỮNG KHUYẾN NGHỊ THIẾT THỰC CHO CỘNG ĐỒNG

Từ tinh thần của Thông tư, ThS. Nguyễn Hữu Long đề xuất một số vấn đề cần được chú trọng trong quá trình triển khai:

Đối với người thực hành, cần coi thời gian thực hành là giai đoạn hình thành năng lực nghề nghiệp thực chất, không phải chỉ là thủ tục để lấy giấy xác nhận. Cần chủ động lưu giữ chứng cứ về tập huấn, đào tạo và các hoạt động chuyên môn được công nhận.

Đối với người hành nghề, cần hình thành thói quen cập nhật kiến thức thường xuyên, đặc biệt về pháp luật, kỹ năng tham vấn – hỗ trợ tâm lý, bảo vệ dữ liệu cá nhân, ứng dụng công nghệ và những vấn đề xã hội mới.

Đối với cơ sở thực hành, phải lựa chọn người hướng dẫn đủ năng lực, tổ chức hướng dẫn thực chất và đặc biệt quan tâm đến bảo mật thông tin của đối tượng. Không nên biến hoạt động thực hành thành hình thức xác nhận thời gian đơn thuần.

Đối với cơ sở đào tạo và cập nhật kiến thức, chương trình phải xuất phát từ nhu cầu nghề nghiệp thực tế. Theo Thông tư, chương trình, tài liệu còn phải được rà soát, cập nhật tối thiểu 03 năm một lần, hoặc sớm hơn khi có thay đổi quan trọng về chính sách, pháp luật, khoa học, công nghệ và thực tiễn nghề nghiệp.

Đối với người dân, khi tiếp cận dịch vụ công tác xã hội cần mạnh dạn yêu cầu được tôn trọng, bảo mật thông tin và cung cấp dịch vụ bởi người có năng lực phù hợp. Người được trợ giúp không phải là đối tượng thụ động của lòng từ thiện; họ là chủ thể có quyền, có nhân phẩm và cần được tôn trọng.

VI. ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP – BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CHO NGƯỜI ĐÃ VÀ ĐANG THỰC HÀNH

Thông tư cũng đặt ra cơ chế chuyển tiếp nhằm tránh gây xáo trộn không cần thiết. Người đã được cấp Giấy xác nhận quá trình thực hành công tác xã hội theo Nghị định 110/2024/NĐ-CP thì không phải thực hành lại. Người đang thực hành trước thời điểm Thông tư có hiệu lực tiếp tục thực hành theo quy định của Nghị định 110/2024/NĐ-CP.

Đây là quy định hợp lý về mặt pháp lý, bảo đảm tính kế thừa và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người đã đầu tư thời gian, công sức vào quá trình thực hành. Một lưu ý quan trọng khi phổ biến văn bản: Thông tư 29/2026/TT-BYT được ban hành ngày 06/7/2026 và có hiệu lực từ ngày 25/8/2026)

THÔNG ĐIỆP NHÂN VĂN

Theo ThS. Nguyễn Hữu Long:

“Công tác xã hội trước hết là công việc với con người. Mà khi làm việc với con người, đặc biệt là những người đang ở hoàn cảnh yếu thế, lòng nhân ái phải được đặt bên cạnh tri thức, kỹ năng, đạo đức và trách nhiệm pháp lý. Chuẩn hóa người hành nghề không phải để tạo thêm thủ tục, mà để mỗi sự trợ giúp được trao đi đúng cách, an toàn và thực sự có giá trị.”

Thông tư về thực hành công tác xã hội và cập nhật kiến thức công tác xã hội vì vậy không chỉ đặt ra những yêu cầu về số tháng thực hành hay số giờ tín chỉ. Giá trị sâu xa của văn bản nằm ở việc góp phần xây dựng một đội ngũ làm công tác xã hội có chuyên môn, có đạo đức, biết học tập suốt đời và biết chịu trách nhiệm đối với từng quyết định nghề nghiệp.

Khi người hành nghề được chuẩn hóa tốt hơn, người hưởng lợi cuối cùng chính là người dân, các nhóm yếu thế, gia đình và cộng đồng.

Và đó cũng là nền tảng để công tác xã hội Việt Nam tiến gần hơn tới một nghề nghiệp chuyên nghiệp – nhân văn – trách nhiệm – thích ứng với xã hội số, trong đó mỗi con người cần trợ giúp đều được lắng nghe, tôn trọng và bảo vệ bằng cả trái tim của người làm nghề lẫn chuẩn mực của pháp luật.

THÔNG TIN LIÊN HỆ: 

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, kinh tế, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc pháp lý, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi tại hệ thống website tuvanphapluattamlygiaoduc.vn hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

Để lại một bình luận