CHỦ ĐỀ 38: NGƯỜI ĐƯỢC BẢO LÃNH MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN, NGƯỜI BẢO LÃNH BỎ TRỐN – BÊN CHO VAY XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?

5 / 100 Điểm SEO

PHẦN I. NỘI DUNG PHẢN ÁNH, KIẾN NGHỊ

Tháng 3/2025, Công ty A ký hợp đồng cung cấp vật liệu xây dựng cho Công ty B với tổng giá trị 5 tỷ đồng. Do Công ty B chưa đủ năng lực tài chính, Công ty A yêu cầu phải có bên thứ ba bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Ông C là Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty D đã ký hợp đồng bảo lãnh với nội dung cam kết sẽ thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thanh toán thay cho Công ty B nếu đến hạn mà Công ty B không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ. Hợp đồng bảo lãnh được lập bằng văn bản, có đầy đủ chữ ký của các bên.

Sau khi nhận đủ hàng hóa, Công ty B chỉ thanh toán được 1 tỷ đồng, còn nợ 4 tỷ đồng. Đến thời hạn thanh toán, Công ty B thông báo mất khả năng tài chính do hoạt động kinh doanh thua lỗ và đề nghị gia hạn thêm 12 tháng nhưng Công ty A không đồng ý.

Công ty A sau đó gửi văn bản yêu cầu ông C thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo hợp đồng. Tuy nhiên, ông C đã rời khỏi nơi cư trú, cắt đứt liên lạc, không phản hồi các thông báo và được xác định đã xuất cảnh ra nước ngoài trước thời điểm nghĩa vụ bảo lãnh đến hạn.

Trong thời gian này, Công ty D cũng cho rằng việc ông C ký bảo lãnh là hành vi cá nhân, không phải quyết định của công ty nên từ chối thực hiện nghĩa vụ thay ông C.

Do khoản nợ kéo dài, Công ty A bị thiếu hụt dòng tiền nghiêm trọng, không thể thanh toán cho nhiều nhà cung cấp khác, dẫn đến nguy cơ vi phạm các hợp đồng đang thực hiện.

Công ty A đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác định trách nhiệm pháp lý của người bảo lãnh, làm rõ trách nhiệm của Công ty D trong trường hợp ông C ký bảo lãnh với tư cách người đại diện hay cá nhân, đồng thời áp dụng các biện pháp tố tụng cần thiết để bảo đảm việc thu hồi khoản nợ theo quy định của pháp luật.

PHẦN II. CƠ SỞ PHÁP LÝ

Căn cứ Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về bảo lãnh, theo đó người bảo lãnh cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ nếu khi đến hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Căn cứ Điều 339 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về phạm vi bảo lãnh, theo đó các bên có thể thỏa thuận bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ.

Căn cứ Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Căn cứ Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bên có quyền có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bên có nghĩa vụ và người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng; đồng thời có quyền đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu có căn cứ cho rằng tài sản có nguy cơ bị tẩu tán.

PHẦN III. CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG XEM XÉT

Góc nhìn tâm lý

Trong thực tế, nhiều người đồng ý bảo lãnh vì quan hệ thân quen hoặc lợi ích kinh doanh mà chưa đánh giá đầy đủ hậu quả pháp lý. Khi nghĩa vụ phát sinh, một số người lựa chọn bỏ trốn hoặc né tránh trách nhiệm với suy nghĩ rằng chỉ cần không có mặt thì sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ. Điều này khiến tranh chấp trở nên căng thẳng và làm mất niềm tin trong hoạt động giao dịch.

Góc nhìn pháp lý

Việc người bảo lãnh bỏ trốn không làm chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh. Nếu hợp đồng bảo lãnh được xác lập hợp pháp thì bên nhận bảo lãnh vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Trường hợp có dấu hiệu tẩu tán tài sản hoặc cố tình trốn tránh nghĩa vụ, bên có quyền có thể đề nghị áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo đảm thi hành án sau này. Nếu việc ký bảo lãnh được thực hiện nhân danh pháp nhân thì cần xem xét phạm vi đại diện và trách nhiệm của pháp nhân theo quy định của pháp luật.

Góc nhìn giáo dục

Người dân và doanh nghiệp cần hiểu rằng bảo lãnh không chỉ là sự cam kết mang tính hình thức mà là một nghĩa vụ pháp lý có thể dẫn đến trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ. Trước khi ký bảo lãnh, cần đánh giá đầy đủ khả năng tài chính của bên được bảo lãnh, giới hạn phạm vi bảo lãnh và các điều kiện phát sinh trách nhiệm để hạn chế rủi ro.

PHẦN IV. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

Kiến nghị bên cho vay khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bên được bảo lãnh và người bảo lãnh thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng.

Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản của người bảo lãnh khi có căn cứ về việc tẩu tán tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ.

Đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác minh tư cách ký kết của người bảo lãnh để làm rõ trách nhiệm của cá nhân hay pháp nhân trong giao dịch.

Khuyến nghị các doanh nghiệp khi nhận bảo lãnh cần quy định rõ phạm vi bảo lãnh, thời hạn bảo lãnh, tài sản bảo đảm (nếu có), địa chỉ liên hệ và cơ chế xử lý khi người bảo lãnh vi phạm nhằm bảo đảm khả năng thu hồi nợ và hạn chế tranh chấp phát sinh.

! Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vấn đề vướng mắc về pháp lý, hãy để lại câu hỏi cho chuyên gia tại hệ thống cổng thông tin: tuvanphapluattamlygiaoduc.vn/gui-cau-hoi-den-chuyen-gia hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời.

Để lại một bình luận