TÌNH HUỐNG 578: NHÂN VIÊN DÙNG ẢNH SẢN PHẨM CÔNG TY ĐỂ QUẢNG CÁO RIÊNG?

13 / 100 Điểm SEO

TÌNH HUỐNG 578: NHÂN VIÊN DÙNG ẢNH SẢN PHẨM CÔNG TY ĐỂ QUẢNG CÁO RIÊNG?

Trong hoạt động kinh doanh, hình ảnh sản phẩm không chỉ là công cụ quảng cáo mà còn có thể là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. Khi nhân viên tự ý lấy hình ảnh do công ty đầu tư sản xuất để quảng cáo cho hoạt động kinh doanh cá nhân, ranh giới giữa “sử dụng hình ảnh có sẵn” và hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể bị bỏ qua. Nếu doanh nghiệp không quy định rõ quyền sử dụng và kiểm soát việc khai thác hình ảnh, tranh chấp rất dễ phát sinh.

Hãy cùng chuyên gia ThS. Nguyễn Hữu Long phân tích một tình huống thực tế dưới đây để tìm ra giải pháp vẹn toàn cho vấn đề này.

I. TÓM TẮT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ

Công ty X kinh doanh sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Để phục vụ hoạt động marketing, công ty thuê một studio chuyên nghiệp thực hiện bộ ảnh sản phẩm gồm:

  • ảnh sản phẩm;
  • ảnh bao bì;
  • ảnh người mẫu sử dụng sản phẩm;
  • ảnh đồ họa quảng cáo;
  • hình ảnh phục vụ website và mạng xã hội.

X sử dụng bộ ảnh này trên website và các kênh bán hàng chính thức.

Một nhân viên kinh doanh của X sau đó nghỉ việc nhưng vẫn lưu giữ toàn bộ hình ảnh sản phẩm trên máy tính cá nhân.

Người này mở một cửa hàng kinh doanh riêng và sử dụng chính những hình ảnh do X thuê chụp để quảng cáo sản phẩm của mình trên Facebook và sàn thương mại điện tử.

Đáng chú ý, người này còn:

  • cắt logo X khỏi hình ảnh;
  • chỉnh sửa màu sắc;
  • thêm thông tin liên hệ của cửa hàng riêng;
  • sử dụng hình ảnh người mẫu và bố cục quảng cáo do X đã đầu tư.

Công ty X phát hiện sự việc và yêu cầu nhân viên gỡ bỏ toàn bộ hình ảnh.

Người này cho rằng: “Ảnh sản phẩm đã đăng công khai trên Internet thì ai cũng có thể sử dụng.”

Công ty X cho rằng đây là hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của công ty.

Vậy nhân viên có được tự ý sử dụng hình ảnh sản phẩm của công ty cho mục đích riêng hay không?

II. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – “LÁ CHẮN VỮNG CHẮC”

  1. Hình ảnh quảng cáo có thể được bảo hộ quyền tác giả

Theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005( sửa đổi, bổ sung 2009,2019,2022,2025), ảnh chụp và tác phẩm mỹ thuật ứng dụng có thể thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả nếu đáp ứng điều kiện luật định.

Do đó, bộ ảnh sản phẩm mà X thuê thực hiện không mặc nhiên trở thành tài sản mà bất kỳ ai cũng được tự do sử dụng.

Việc ảnh đã được đăng tải công khai chỉ chứng minh rằng ảnh có thể tiếp cận được, không đồng nghĩa với việc quyền sử dụng đã được chuyển giao cho cộng đồng.

  1. Cần xác định ai là chủ sở hữu quyền tác giả

Trong trường hợp X thuê studio chụp ảnh, doanh nghiệp cần kiểm tra:

  • hợp đồng với studio;
  • thỏa thuận về quyền tác giả;
  • phạm vi quyền sử dụng;
  • thời hạn và mục đích sử dụng;
  • quyền chỉnh sửa, sao chép và đăng tải.

Nếu X là chủ sở hữu quyền hoặc có quyền sử dụng hợp pháp trong phạm vi phù hợp, nhân viên không được mặc nhiên lấy những hình ảnh đó để khai thác cho hoạt động kinh doanh riêng.

  1. Sử dụng ảnh công ty cho hoạt động cá nhân có thể xâm phạm quyền

Nhân viên đã:

  • sao chép hình ảnh;
  • chỉnh sửa;
  • đăng tải lại;
  • sử dụng để quảng cáo;
  • khai thác nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh riêng.

Nếu các hành vi này thuộc phạm vi quyền của chủ sở hữu mà chưa được phép, có thể phát sinh trách nhiệm do xâm phạm quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ.

Đặc biệt, việc sử dụng cho hoạt động kinh doanh cá nhân cho thấy mục đích khai thác thương mại rõ ràng.

  1. Việc cắt logo không làm mất quyền của chủ sở hữu

Quyền đối với tác phẩm không phụ thuộc hoàn toàn vào việc hình ảnh có chứa logo doanh nghiệp hay không.

Nếu hình ảnh là tác phẩm được bảo hộ và quyền thuộc công ty X hoặc chủ thể khác, việc xóa logo không làm phát sinh quyền sử dụng mới cho nhân viên.

Ngược lại, việc chỉnh sửa hoặc cắt ghép còn có thể làm phát sinh thêm vấn đề liên quan đến quyền của tác giả, chủ sở hữu theo từng trường hợp.

  1. Nhân viên phải tuân thủ thỏa thuận và quy định nội bộ

Nếu hình ảnh được tạo ra trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhân viên được giao quản lý, sử dụng tài liệu marketing của X, công ty cần căn cứ vào:

  • hợp đồng lao động;
  • nội quy;
  • quy chế bảo mật;
  • quy định về tài sản trí tuệ;
  • thỏa thuận sử dụng tài liệu;
  • chính sách truyền thông của doanh nghiệp.

Các tài liệu này là cơ sở quan trọng để xác định phạm vi quyền sử dụng của nhân viên và trách nhiệm khi sử dụng sai mục đích.

Kết luận pháp lý

Nhân viên công ty X không đương nhiên có quyền sử dụng hình ảnh sản phẩm của công ty cho hoạt động kinh doanh cá nhân chỉ vì những hình ảnh này đã được đăng tải công khai.

Nếu X hoặc chủ thể hợp pháp khác là chủ sở hữu quyền đối với các hình ảnh và nhân viên tự ý sao chép, chỉnh sửa, đăng tải, khai thác thương mại mà không được phép, hành vi này có thể cấu thành hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005( sửa đổi, bổ sung 2009,2019,2022,2025).

Công ty X có quyền yêu cầu chấm dứt việc sử dụng và áp dụng biện pháp bảo vệ quyền phù hợp nếu có đủ căn cứ.

III. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ

“CHÌA KHÓA NHÂN VĂN”

Sai lầm trong tình huống này không chỉ nằm ở hành vi của nhân viên mà còn ở cơ chế quản trị tài sản trí tuệ của Alpha.

Nếu công ty không phân loại và đánh dấu rõ “Tài liệu nội bộ – chỉ sử dụng cho mục đích công việc” thì nhân viên rất dễ có suy nghĩ “Ảnh này công ty đăng công khai thì tôi có thể sử dụng.”

Do đó, doanh nghiệp cần đào tạo nhân viên về quyền sở hữu trí tuệ và giải thích rõ:

  • Được nhìn thấy – không đồng nghĩa được sao chép.
  • Được truy cập – không đồng nghĩa được khai thác thương mại.
  • Được sử dụng trong công việc – không đồng nghĩa được sử dụng cho mục đích cá nhân.

Đây là nền tảng quan trọng để hình thành văn hóa tôn trọng tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp.

IV. GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CỦA CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG

Một là, xác lập quyền đối với hình ảnh. Hợp đồng với nhiếp ảnh gia, studio và agency phải quy định rõ quyền sở hữu, quyền sử dụng và phạm vi khai thác.

Hai là, xây dựng kho tài sản số. Quản lý tập trung hình ảnh, video, thiết kế và tài liệu marketing.

Ba là, phân quyền truy cập. Chỉ nhân viên có nhiệm vụ mới được sử dụng tài liệu quảng cáo.

Bốn là, quy định rõ trong hợp đồng lao động và nội quy. Cấm sử dụng tài sản trí tuệ của công ty cho mục đích cá nhân nếu chưa được cho phép.

Năm là, đánh dấu và quản lý tài liệu. Có thể sử dụng watermark, thông tin bản quyền và hệ thống quản lý tài sản số để hạn chế việc sử dụng trái phép.

Sáu là, xử lý ngay khi phát hiện vi phạm. Lưu chứng cứ, yêu cầu chấm dứt sử dụng, gỡ nội dung và áp dụng biện pháp pháp lý phù hợp khi cần thiết.

GÓC NHÌN CHUYÊN GIA:

Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc về pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi cho chuyên gia tại: https://tuvanphapluattamlygiaoduc.vn/gui-cau-hoi-den-chuyen-gia/

hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.

 

Để lại một bình luận