Một hộ dân tự ý lấp hồ nước tự nhiên của làng để mở rộng sân phơi lúa cá nhân, làm bít đường thoát nước tự nhiên gây ngập lụt cục bộ mùa mưa lũ?
1. TÓM TẮT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ
Tại thôn X, xã B, tỉnh C có một hồ nước tự nhiên hình thành từ lâu đời, được người dân địa phương quen gọi là “Ao làng”. Hồ có diện tích khoảng 1.500 m², vừa có chức năng tích nước vào mùa mưa, vừa là nơi tiếp nhận và điều tiết lượng nước từ khu dân cư, đồng ruộng xung quanh trước khi thoát ra tuyến tiêu nước chung.
Qua nhiều thế hệ, người dân trong thôn sử dụng khu vực hồ như một bộ phận của hệ thống thoát nước tự nhiên của làng. Vào mùa mưa lớn, nước từ các khu vực thấp dồn về hồ, sau đó thoát dần theo tuyến mương tiêu ra khu vực hạ lưu.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn A, một hộ dân sống giáp khu vực hồ, cho rằng phần đất ven hồ bỏ trống, không được sử dụng hiệu quả nên đã tự ý đổ đất, xà bần và đất đào từ nơi khác xuống một phần lòng hồ để san lấp khoảng 300 m², sau đó mở rộng sân phơi lúa và dựng một số vật dụng phục vụ sản xuất gia đình. Ông A cho rằng phần diện tích này nằm sát đất gia đình mình nên “mở rộng sân” chỉ là việc cải tạo đất, không gây ảnh hưởng đáng kể đến ai.
Thời gian đầu, việc lấp hồ chưa gây hậu quả rõ rệt. Tuy nhiên, trong những trận mưa lớn tiếp theo, phần lòng hồ bị thu hẹp khiến khả năng chứa và điều tiết nước giảm mạnh. Đồng thời, đất san lấp còn làm bít một hướng thoát nước tự nhiên.
Hậu quả là nước mưa không thoát kịp, tràn vào đường làng và một số hộ dân thấp hơn. Một số diện tích lúa, hoa màu bị ngập úng; sân nhà nhiều hộ bị ngập; giao thông trong thôn bị ảnh hưởng.
Người dân đã nhiều lần đề nghị ông A tự tháo dỡ phần đất san lấp và khơi thông dòng thoát nước nhưng ông không đồng ý, cho rằng mình đang sử dụng phần đất “sát nhà mình” và việc tháo dỡ sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động phơi lúa của gia đình.
Từ đó phát sinh câu hỏi: “Một cá nhân có được tự ý lấp hồ/ao tự nhiên của làng để mở rộng diện tích sử dụng cá nhân hay không? Nếu việc san lấp làm cản trở dòng chảy, gây ngập úng cho cộng đồng thì cơ quan nào có trách nhiệm xử lý và có thể buộc hộ vi phạm múc đất, khơi thông dòng chảy, khôi phục hiện trạng hay không?”
2. GÓC NHÌN PHÁP LÝ – “LÁ CHẮN VỮNG CHẮC”
2.1. Không phải cứ đất nằm sát nhà mình thì người dân được tự ý san lấp
Trước hết cần xác định nguồn gốc và loại đất của khu vực hồ.
Theo điểm i Khoản 3 Điều 9 Luật Đất đai 2024 quy định: Phân loại đất:
“3. Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:
- i) Đất có mặt nước chuyên dùng”
Do đó, việc một hộ dân tự ý đổ đất xuống hồ không thể được xem đơn giản là “cải tạo phần đất của gia đình” nếu phần diện tích bị san lấp không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ đó.
Việc xác định loại đất phải căn cứ vào hồ sơ địa chính, giấy chứng nhận, giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và các căn cứ pháp luật khác.
Đặc biệt, nếu đây là hồ/ao có chức năng phục vụ cộng đồng, tiêu thoát nước hoặc thuộc phạm vi quản lý của Nhà nước thì cá nhân càng không thể tự xác lập quyền sử dụng bằng cách đổ đất – san lấp – sử dụng lâu ngày.
2.2. Tự ý lấp hồ, ao có thể xâm phạm hoạt động thủy lợi và dòng chảy
Theo Điều 8 Luật Thủy lợi 2017 nghiêm cấm hành vi: “Ngăn, lấp, đào, nạo vét, hút bùn, cát, sỏi trên sông, kênh, mương, rạch, hồ, ao trái phép làm ảnh hưởng đến hoạt động thủy lợi.”
Luật cũng đặt trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân khi phát hiện hành vi gây tổn hại hoặc đe dọa an toàn công trình phải báo cho tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi hoặc UBND nơi gần nhất.
Vì vậy, nếu hồ/ao trong tình huống thực tế có chức năng thủy lợi, tiêu thoát nước hoặc thuộc hệ thống công trình thủy lợi thì hành vi của ông A có thể được xem xét dưới góc độ pháp luật về thủy lợi, chứ không chỉ là vấn đề tranh chấp đất đai. Đặc biệt, hậu quả làm bít đường thoát nước và gây ngập úng cho khu dân cư là tình tiết cần được cơ quan có thẩm quyền xác minh, đánh giá bằng hiện trạng và hồ sơ kỹ thuật.
2.3. Quyền sử dụng đất không cho phép một người gây thiệt hại cho cộng đồng
Ngay cả trong trường hợp ông A có quyền sử dụng hợp pháp đối với một phần diện tích đất liền kề hồ, quyền sử dụng đất vẫn phải được thực hiện theo đúng mục đích và quy định pháp luật. Không thể lấy lý do:
- “Đất gần nhà tôi”;
- “Tôi sử dụng để phơi lúa”;
- “Tôi đã đổ đất từ lâu”;
- “Không ai phản đối ngay từ đầu”
để mặc nhiên hợp pháp hóa việc lấp hồ hoặc chặn đường thoát nước.
Nếu hành vi làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất, sử dụng đất sai mục đích hoặc lấn, chiếm đất thì tùy tính chất, diện tích và nguồn gốc đất, người vi phạm có thể bị xử phạt theo Nghị định 123/2024/NĐ-CP và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng. Nghị định này hiện vẫn còn hiệu lực.
Trong nhiều trường hợp vi phạm về đất đai, biện pháp khắc phục hậu quả có thể bao gồm buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, tùy đúng hành vi và căn cứ áp dụng.
2.4. Cộng đồng dân cư có vai trò quan trọng trong việc phát hiện và giám sát
Đối với một hồ/ao có chức năng tiêu thoát nước chung, người dân trong thôn không nên coi đây là việc riêng giữa “nhà ông A” và “UBND xã”.
Đây là vấn đề có thể ảnh hưởng đến:
- an toàn dân cư;
- giao thông nông thôn;
- sản xuất nông nghiệp;
- thoát nước mùa mưa;
- môi trường sống;
- tài sản của các hộ dân khác.
Luật Bảo vệ môi trường 2020 xác định cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân là các chủ thể có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong hoạt động bảo vệ môi trường; hoạt động bảo vệ môi trường bao gồm cả phòng ngừa, hạn chế tác động xấu và khắc phục suy thoái môi trường.
Vì vậy, việc người dân phát hiện – ghi nhận – phản ánh – giám sát hành vi san lấp hồ, cản trở thoát nước là một mắt xích quan trọng trong quản trị cộng đồng.
3. GÓC NHÌN TÂM LÝ – GIÁO DỤC – QUẢN TRỊ – “CHÌA KHÓA NHÂN VĂN”
3.1. Tâm lý “chiếm dụng phần bỏ trống”
Đằng sau nhiều vụ việc tương tự không đơn thuần là ý thức vi phạm pháp luật. Một số hộ dân có thể xuất phát từ suy nghĩ: “Chỗ này bỏ không, mình tận dụng một ít thì có sao đâu?” Ban đầu chỉ là:
- đổ vài xe đất;
- mở rộng thêm vài mét sân;
- đặt tạm vật dụng;
- lấp một góc ao;
- làm đường đi riêng.
Nhưng khi hành vi không được phát hiện và xử lý kịp thời, diện tích bị chiếm dụng có thể tiếp tục tăng lên. Từ “tận dụng một chút” chuyển thành “sử dụng ổn định”, rồi dần hình thành tâm lý: “Tôi đã sử dụng lâu rồi thì nó phải thuộc về tôi.”
Đây chính là tâm lý chiếm dụng dần dần đối với tài sản, không gian và hạ tầng dùng chung.
3.2. Điều nguy hiểm là hậu quả không chỉ nằm tại vị trí bị lấp
Một người có thể nghĩ: “Tôi chỉ lấp 300 m² ao.” Nhưng vấn đề không nằm ở 300 m². Vấn đề nằm ở chức năng của 300 m² đó trong toàn bộ hệ thống thoát nước.
Một hồ nhỏ có thể đóng vai trò: Mưa lớn → nước tập trung → hồ chứa tạm → nước thoát dần → khu dân cư an toàn.
Khi một hộ lấp hồ: Mưa lớn → hồ giảm dung tích → nước dồn sang khu vực khác → đường làng ngập → nhà dân thấp hơn ngập → sản xuất bị ảnh hưởng. Do đó: “Một hành vi chiếm dụng không gian nhỏ có thể tạo ra hậu quả lớn nếu nó nằm ở vị trí “nút thắt” của hệ thống thoát nước.”
3.3. Giám sát cộng đồng không đồng nghĩa với “tự xử”
Khi phát hiện hành vi san lấp hồ, người dân không nên tự ý tháo dỡ, xô xát hoặc đưa máy móc vào đất của hộ vi phạm. Cách làm phù hợp là:
Bước 1 – Ghi nhận hiện trạng: Người dân có thể ghi nhận:
- hình ảnh;
- video;
- thời điểm san lấp;
- diện tích ước tính;
- vị trí hồ;
- hướng dòng chảy;
- tình trạng ngập trước và sau khi san lấp.
Bước 2 – Phản ánh đến trưởng thôn/tổ dân cư: Trưởng thôn có thể tổng hợp ý kiến cư dân, lập biên bản phản ánh hoặc chuyển kiến nghị đến UBND xã.
Bước 3 – Đề nghị UBND xã kiểm tra thực địa: Cơ quan có thẩm quyền cần kiểm tra:
- nguồn gốc đất;
- hiện trạng hồ;
- bản đồ địa chính;
- quy hoạch/kế hoạch sử dụng đất;
- chức năng tiêu thoát nước;
- có phải công trình thủy lợi hay không;
- diện tích bị san lấp;
- hậu quả gây ngập.
Bước 4 – Xử lý theo đúng hành vi vi phạm: Không nên “đóng khung” ngay từ đầu rằng đây chỉ là lấn đất hoặc chỉ là vi phạm thủy lợi.
Cần xác định đúng hành vi và căn cứ pháp lý tương ứng.
4. GIẢI PHÁP TOÀN DIỆN CỦA CHUYÊN GIA NGUYỄN HỮU LONG
4.1. Quan điểm xử lý: “Khơi thông dòng nước trước, xử lý trách nhiệm sau”
Trong tình huống mùa mưa lũ đang diễn ra, ưu tiên đầu tiên là bảo đảm an toàn dân cư và khơi thông khả năng tiêu thoát nước, đồng thời phải thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự pháp luật.
Chuyên gia Nguyễn Hữu Long đề xuất mô hình xử lý gồm 4 bước:
BƯỚC 1. TIẾP NHẬN PHẢN ÁNH VÀ KIỂM TRA HIỆN TRẠNG
UBND xã B tiếp nhận phản ánh của người dân, tổ chức kiểm tra thực địa. Nội dung kiểm tra cần lập thành hồ sơ:
- vị trí hồ;
- diện tích hồ trước và sau khi san lấp;
- diện tích bị lấp;
- khối lượng đất đã đổ;
- hướng thoát nước;
- mức độ ảnh hưởng;
- hình ảnh, video;
- ý kiến của các hộ bị ảnh hưởng.
Nếu cần thiết, UBND xã phối hợp với cơ quan chuyên môn để xác định chính xác chức năng của hồ và mức độ ảnh hưởng đến hệ thống tiêu thoát nước.
BƯỚC 2. XÁC ĐỊNH QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÍNH CHẤT CỦA HỒ
Cơ quan có thẩm quyền phải xác định: Hồ thuộc ai?; Đất hồ được xác định là loại đất gì?; Có phải đất công cộng hay không?; Có phải công trình thủy lợi hay không?; Có thuộc phạm vi bảo vệ nguồn nước hoặc công trình thủy lợi hay không?; Ông A có giấy tờ hợp pháp đối với diện tích bị san lấp hay không?
Luật Đất đai 2024 yêu cầu việc xác định loại đất phải dựa trên các căn cứ pháp lý như giấy chứng nhận, giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và các căn cứ khác theo luật.
BƯỚC 3. YÊU CẦU CHẤM DỨT HÀNH VI VÀ KHÔI PHỤC KHẢ NĂNG THOÁT NƯỚC
Nếu xác định có hành vi vi phạm, cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ xử lý và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả phù hợp. Trong trường hợp căn cứ pháp lý cho phép buộc khôi phục tình trạng ban đầu, việc khôi phục có thể bao gồm:
- tháo dỡ phần công trình/vật cản trái phép;
- di chuyển đất, vật liệu san lấp;
- khơi thông cửa thoát nước;
- nạo vét phần bị lấp trong phạm vi cần thiết;
- phục hồi khả năng chứa nước của hồ;
- hoàn trả mặt bằng theo hiện trạng hợp pháp ban đầu.
Tuy nhiên, cần lưu ý: “Khôi phục tình trạng ban đầu” không đồng nghĩa với việc máy móc múc toàn bộ đất ra khỏi khu vực trong mọi trường hợp. Cơ quan chuyên môn phải xác định phạm vi cần khôi phục và biện pháp kỹ thuật phù hợp, tránh việc khắc phục lại gây sạt lở, ngập úng hoặc nguy hiểm cho khu vực xung quanh. Quy định kỹ thuật hiện hành cũng lưu ý đến trường hợp việc khôi phục có thể gây nguy hiểm, sạt lở hoặc ngập úng cho khu đất xung quanh.
BƯỚC 4. NẾU ÔNG A KHÔNG TỰ NGUYỆN CHẤP HÀNH THÌ CÓ THỂ CƯỠNG CHẾ
Nếu đã có quyết định xử phạt/quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hợp pháp nhưng ông A không tự nguyện chấp hành, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cho phép áp dụng biện pháp cưỡng chế để buộc thực hiện quyết định.
Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định cưỡng chế có thể bao gồm buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Nghị định 166/2013/NĐ-CP quy định về trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; quyết định cưỡng chế phải xác định rõ biện pháp khắc phục, thời gian thực hiện và cơ quan chủ trì tổ chức cưỡng chế.
Như vậy, về nguyên tắc, nếu đủ căn cứ và đã có quyết định hợp pháp buộc khôi phục nhưng người vi phạm không chấp hành thì không cần chờ người dân tự tháo dỡ, mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể tổ chức cưỡng chế theo trình tự luật định.
GÓC NHÌN CHUYÊN GIA:
Bài viết này được xây dựng dựa trên sự tham vấn, tư vấn chuyên môn của ThS. Nguyễn Hữu Long – Chuyên gia Lãnh đạo, Pháp lý, Tâm lý & Giáo dục. Với tư duy tích hợp đa ngành, chúng tôi không chỉ mang lại lá chắn pháp lý vững chắc mà còn cung cấp giải pháp quản trị rủi ro và thấu cảm tâm lý toàn diện vì sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Nếu bạn hoặc tổ chức của bạn đang gặp phải những vướng mắc về pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline hoặc để lại câu hỏi cho chuyên gia tại: https://tuvanphapluattamlygiaoduc.vn/gui-cau-hoi-den-chuyen-gia/
hoặc qua số hotline: 0898.627.762 để được hỗ trợ kịp thời.
Từ khoá: Tư vấn; Luật đất đai; Bộ luật dân sự; Giải pháp.

